Bản án 42/2019/HNGĐ-ST ngày 03/10/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 42/2019/HNGĐ-ST NGÀY 03/10/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 03 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Bà Phạm Bích N, sinh năm 1975 Nơi cư trú: Thôn 3, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Bị đơn:

Ông Lê Văn B, sinh năm 1976 Nơi cư trú: Thôn 3, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 6 năm 2019 và các tài liệu chứng cứ, nguyên đơn của bà Phạm Bích N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Văn B kết hôn ngày 23 tháng 9 năm 1994, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2005 thì xảy ra mâu thuẩn, do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, từ tháng 12 năm 2018 vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Nay bà yêu cầu ly hôn ông B, việc ly hôn bà đã suy nghĩ kỹ và tự nguyện.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Bảo T, sinh ngày 03-11- 1995, hiện nay đã thành niên, có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi mình, không yêu cầu Tòa án giải quyết và Lê Thị Thanh T, sinh ngày 14-6-2009. Khi ly hôn bà yêu cầu giao con chung Lê Thị Thanh T cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, yêu cầu ông B phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, tính từ tháng 11 năm 2019 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Tài sản chung và tài sản nợ chung đều không có, khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Trong quá trình xét xử và nội dung bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt ông Lê Văn B trình bày:

Ông B thừa nhận lời trình bày của bà Nc về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản như trên là đúng.

Vợ chồng đã mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, bà N yêu cầu ly hôn thì ông thuận tình ly hôn.

Về con chung: Ông yêu cầu giao con chung Lê Thị Thanh T cho ông trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu bà N phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Tài sản chung và tài sản nợ chung đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại điện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho bà N và ông B ly hôn. Chấp nhận yêu cầu của bà N về giao con chung và yêu cầu về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Giao con chung Lê Thị Thanh T cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông B có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, tính từ tháng 11 năm 2019 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về tài sản không xem xét giải quyết. Buộc bà N và ông B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Văn B vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông B. Bà N có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông B. Ông B hiện đang cư trú tại huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Bà Phạm Bích N và ông Lê Văn B tự nguyện kết hôn ngày 23 tháng 9 năm 1994, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông B là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quan hệ vợ chồng của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc bà N yêu cầu được ly hôn với ông B là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự, bản sao giấy khai sinh, có cơ sở xác định bà N và ông B có hai con chung là Lê Bảo T, sinh ngày 03- 1-1995, hiện nay đã thành niên, có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi mình, không yêu cầu Tòa án giải quyết và Lê Thị Thanh T, sinh ngày 14-6-2009. Khi ly hôn bà N và ông B đều yêu cầu giao con chung Lê Thị Thanh T cho ông, bà trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, cần ổn định cuộc sống của con chung, nguyện vọng của con chung, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con nên cần giao con chung Lê Thị Thanh T cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông B có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, tính từ tháng 11 năm 2019 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, tài sản nợ chung của vợ chồng: xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn số tiền là 300.000 đồng, ông B phải chịu 300.000 đồng đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Luật thi hành án dân sự;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Bích N và ông Lê Văn B ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung Lê Thị Thanh T, sinh ngày 14-6-2009 cho bà Phạm Bích N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Văn B có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, tính từ tháng 11 năm 2019 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Quyền, nghĩa vụ thăm nom con; thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi mức cấp dưỡng của các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí:

Buộc bà Phạm Bích N phải chịu án phí dân sư sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2016/0014308 ngày 26 tháng 6 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh. Bà N đã nộp đủ án phí.

Buộc ông Lê Văn B phải chịu án phí dân sư sơ thẩm là 300.000 đồng đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


57
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2019/HNGĐ-ST ngày 03/10/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:42/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Di Linh - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 03/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về