Bản án 42/2018/HNGĐ-ST ngày 20/08/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 42/2018/HNGĐ-ST NGÀY 20/08/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 20 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 144/2018/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Bích N, sinh năm 1984; đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số 8/32/50 Chợ Hàng, phường Đông Hải, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Lưu Thủy C, sinh năm 1978; đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số 8/32/50 Chợ Hàng, phường Đông Hải, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; hiện đang chấp hành án tại Trại giam Ninh Khánh, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và các lời khai của chị Bùi Thị Bích N có trong hồ sơ thể hiện:

Chị N và anh C xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đông Hải, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 22/10/2016.

Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn từ năm 2017, nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên bất đồng quan điểm sống, cách sống. Bản thân anh C mắc nghiện ma túy và phạm tội, đang phải chấp hành án tại Trại giam Ninh Khánh, tỉnh Ninh Bình. Khi vợ chồng còn chung sống với nhau, mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình động viên, khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị N cũng đã khuyên nhủ anh C cai nghiện ma túy nhưng anh C không thay đổi. Đến nay, chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị N và anh C không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị N và anh C không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Lưu Thủy C có bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt trình bày:

Anh C đồng ý với chị N về tình trạng hôn nhân và có xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, nay chị N có đơn xin ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị N và anh C không có con chung nên anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị N và anh C không có tài sản chung nên anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh tại địa phương nơi anh C và chị N cư trú có nội dung thể hiện: Vợ chồng chị N và anh C đã phát sinh mâu thuẫn từ lâu nguyên nhân là do anh C mắc nghiện ma túy từ lâu, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ hạnh phúc.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục về pháp luật tố tụng tại phiên tòa; nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về tố tụng.

Về nội dung vụ án: Chị Bùi Thị Bích N và anh Lưu Thủy C lấy nhau có đăng ký kết hôn vì vậy hôn nhân là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị N được ly hôn anh C theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị N và anh C không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản chung: Chị N và anh C không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận xét:

[1] Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và xác nhận tạm trú thể hiện: Anh Lưu Thủy C, sinh năm 1978; đăng ký thường trú tại: Số 8/32/50 Chợ Hàng, phường Đông Hải, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án khởi kiện xin ly hôn giữa nguyên đơn là chị Bùi Thị Bích N và anh Lưu Thủy C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Lưu Thủy C vắng mặt vì đang chấp hành án phạt tù nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và anh C đã có ý kiến xin giải quyết vắng mặt. Bởi vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Lưu Thủy C.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đông Hải, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào năm 2016 nên là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống: Chị N và anh C có nhiều mâu thuẫn từ năm 2017, nguyên nhân do vợ chồng không tôn trọng nhau, hơn nữa anh C mắc nghiện ma túy và đang phải chấp hành án phạt tù nên hạnh phúc vợ chồng không đạt được. Vợ chồng đã được hai bên gia đình động viên, khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Đến nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được, quan hệ vợ chồng trên thực tế đã không còn tồn tại. Bởi vậy, chị N yêu cầu được ly hôn anh C là phù hợp với thực tế, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Chị N và anh C không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về tài sản chung: Chị N và anh C đều có ý kiến trình bày không có tài sản C nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về án phí: Chị N phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 28; 147; 227; 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các điều 51; 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chị Bùi Thị Bích N được ly hôn anh Lưu Thủy C.

Về án phí: Chị Bùi Thị Bích N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chị N đã nộp đủ số tiền án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005055 ngày 02 tháng 4 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự Quận Lê Chân.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


80
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2018/HNGĐ-ST ngày 20/08/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:42/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Lê Chân - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:20/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về