Bản án 42/2018/HNGĐ-ST ngày 14/11/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 42/2018/HNGĐ-ST NGÀY 14/11/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 14 tháng 11 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài mở phiên Tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 399/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/QĐXX-ST ngày 24 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2018/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Thân Thị Kim A - SN: 1993. (Có đơn xin vắng mặt)

Trú tại: Ấp 1B, xã TT, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn: Ông Mai Quang B – SN: 1989. (Vắng mặt không có lý do)

Trú tại: Tổ 3B, khu phố SĐ, phường TX, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 7 năm 2018 và quá trình giải quyết vụ án bà Thân Thị Kim A trình bày: Bà A và ông B tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau, không ai ép buộc, tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2013, có làm thủ tục đăng ký kết theo quy định của pháp luật tại UBND phường TX, thị xã Đồng, tỉnh Bình Phước. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, lý do mâu thuẫn là tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không thống nhất được mọi việc trong gia đình vợ chồng hay cải nhau, ông B rượu chè về nhà thường gây gỗ chửi mắng và đánh đập bà A. Bà A và ông B đã sống ly thân với nhau từ tháng 06 năm 2018 cho đển nay. Nay bà A xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, bà A yêu cầu được ly hôn với ông B.

Về con chung: Bà A và ông B có 02 người con chung là cháu Mai Hoàng Bảo C, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2014 và Mai Hoàng Bảo D, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2014.

Bà A yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Mai Quang B vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu đầy đủ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Toà án nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền của Toà án: Đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn” do bà Thân Thị Kim A đứng đơn khởi kiện, bị đơn ông Mai Quang B trú tại Tổ 3b, khu phố SĐ, phường TX, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn và bị đơn; Đối với nguyên đơn bà Thân Thị Kim A có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Mai Quang B vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng hợp lệ nên xem như ông B từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại Tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà A, ông B theo thủ tục chung.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời trình bày của bà A và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định bà A và ông B kết hôn năm 2013 tại Uỷ ban nhân dân phường TX, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Căn cứ quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa bà A và ông B là hôn nhân hợp pháp.

[4]. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà A và ông B; Bà A trình bày thời gian đầu bà và ông B chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, lý do mâu thuẫn là tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không thống nhất được mọi việc trong gia đình vợ chồng hay cải nhau, ông B rượu chè về nhà thường gây gỗ chửi mắng và đánh đập bà A, bà A và ông B đã sống ly thân với nhau từ tháng 6 năm 2018 cho đển nay. Đối với ông B vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không gửi ý kiến của mình cho Tòa án, nên Toà án căn cứ các chứng cứ do bà A cung cấp, trình bày để giải quyết vụ án. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, tòa đã tiến hành mở nhiều phiên hòa giải để hòa giải cho bà A, ông B nhưng ông B vẫn vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn giữa bà A và ông B là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không được duy trì nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà A.

[5]. Về con chung: Trong thời gian chung sống bà A và ông B có 02 người con chung là cháu Mai Hoàng Bảo C, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2014 và Mai Hoàng Bảo D, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2014. Bà A yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu C và cháu D còn nhỏ. Trong quá trình giải quyết vụ án ông B không có ý kiến, yêu cầu gì về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Do đó, nhằm ổn định cuộc sống của cháu C và cháu D cần giao 02 cháu cho bà A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông B không phải cấp dưỡng nuôi con.

[6]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[7]. Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà Thân Thị Kim A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng vào các Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147, ĐiềuĐiều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 09, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Thân Thị Kim A được ly hôn với ông Mai Quang B. (Bà A và ông B kết hôn ngày 06 tháng 12 năm 2013 theo giấy chứng nhận kết hôn số 128/2013 Uỷ ban nhân dân phường TX, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước).

2. Về con chung: Giao cháu Mai Hoàng Bảo C, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2014 và Mai Hoàng Bảo D, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2014 cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng; Ông B không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Thân Thị Kim A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000582 ngày 14/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đồng Xoài; Bà A đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2018/HNGĐ-ST ngày 14/11/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:42/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:14/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về