Bản án 42/2017/HSST ngày 23/11/2017 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H - TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 42/2017/HSST NGÀY 23/11/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 23/11/2017, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện H xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 42/2017/HSST ngày 10/11/2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2017/QĐXX ngày 10/11/2017 đối với bị cáo:

Lê Khắc T, sinh ngày 26/9/1988, thường trú và chỗ ở tại thôn 3, xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Bố là ông Lê Khắc T, sinh năm 1963 và mẹ là bà Vũ Thị P, sinh năm 1966, cùng trú tại thôn 3, xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; Anh, chị em ruột có 02 người, bị cáo là thứ hai; Vợ là chị Dương Thị Huyền, sinh năm 1986, trú tại thôn 3, xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh và có 01 con sinh năm 2017. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: ông Đinh Khắc D, sinh năm 1938, trú tại thôn 9, xã Đ, huyện H,tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị N1, sinh 1952, Trú tại thôn 9, xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 06/10/2017, tại nhà ông Đinh Khắc D tại thôn 9, xã Đ, huyện H, Lê Khắc T có hành vi dùng thanh sắt đánh ông Đinh Khắc D, sinh năm 1938, gây thương tích tổn hại 16% sức khỏe.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình về cơ bản giống với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố đối với bị cáo.

Bị cáo khai: Tối ngày 06/10/2017, sau khi đi làm về bị cáo có rủ một số bạn bè đến nhà uống rượu, đến khoảng hơn 8 giờ tối ăn xong, bị cáo tiễn bạn về rồi định đóng cửa thì thấy một người đàn ông lạ mặt, bị cáo bắt chuyện với họ rồi hai bên xảy ra cãi vã, người đàn ông này bỏ chạy, bị cáo vào nhà lấy xe mô tô ra đuổi theo, bị cáo đi theo hướng phía nhà ông D nhưng không thấy người đàn ông này, nghi ngờ nhà ông D giấu người này bên trong nên bị cáo gọi cửa đề nghị cho vào tìm người, trong lúc bị cáo đang nhòm qua khe cửa thì ông D dùng một cây sắt chọc qua khe cửa vào mồm bị cáo. Bị cáo tức giận nên đạp cửa vào nhà giằng cây sắt của ông D và vụt vào người ông D, ông D giơ tay trái lên đỡ nên cây sắt vụt vào trúng tay trái của ông. Lúc ấy anh Quảng đến can ngăn và kéo bị cáo ra ngoài, rồi công an xã đến làm việc.

Bị cáo khai giữa bị cáo và gia đình ông D, bà N1 không có mâu thuẫn gì trước đó, việc phạm tội là do bị cáo say rượu và một phần do bực tức vì bị ông D chọc cây sắt vào mồm. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường dân sự đầy đủ cho người bị hại.

Tại phiên tòa bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật hình sự nên việc bị cáo bị truy tố và đưa ra xét xử là đúng, không oan sai. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại là ông Đinh Khắc D có mặt tại phiên tòa khai: tối ngày 06/10/2017, ông và vợ là bà N1 đang nằm ngủ trong nhà thì nghe thấy có tiếng gọi cửa, khi hai vợ chồng ông ra thì thấy bị cáo, bị cáo đòi vào nhà tìm người, ôngkhông cho vào thì bị cáo chửi mắng ông, ông dùng cây sắt chọc qua khe cửa vào mồm bị cáo, bị cáo tức giận đạp cửa vào giằng cây sắt và vụt vào người ông, ông giơ tay trái lên đỡ theo phản xạ nên cây sắt đập trúng tay trái làm ông bị gãy tay phải đi viện điều trị, tổn hại sức khỏe 16%.

Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho ông nên tại phiên tòaông không yêu cầu gì về phần dân sự, về phần hình sự ông đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người làm chứng Nguyễn Thị N1 có mặt tại phiên tòa khai: Tối ngày 06/10/2017, vợ chồng bà đang ngủ trong nhà thì nghe tiếng gọi cửa, bà và ông D ra xem thì thấy bị cáo đang đòi vào nhà tìm người, gia đình bà không đồng ý thì bị cáo bực tức chửi bới đòi phá cửa, bà sợ quá chạy xuống cửa sau đi gọi người giúp, lúcấy bà nghe tiếng chồng kêu cứu, bà quay lại thì thấy Quảng đang ôm bị cáo T kéo ra ngoài còn chồng bà là ông D đang nằm dưới đất kêu đau. Quá trình phạm tội cụ thể như thế nào bà không được chứng kiến.

Người làm chứng Lê Văn Quảng vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại cơ quan điều tra có lời khai thể hiện: Tối ngày 06/10/2017 có anh Báu gọi điện cho anh bảo là nhà bị cáo có trộm, anh đi xuống nhà thì không thấy bị cáo nên đã phóng xe máy đi tìm, khi đi qua nhà ông D thì anh thấy bị cáo đang đứng trước cửa nhà chửi ông D, ông Dcầm cây sắt chọc qua khe cửa vào mồm bị cáo, bị cáo tức giận đạp cửa vào giằng cây sắt và vụt trúng tay trái ông D. Anh thấy thế liền chạy vào ôm can và kéo bị cáo ra. Sau đó cơ quan công an đến hiện trường và anh cũng được mời lên công an làm việc.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 529 ngày 18/10/2017 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Quảng Ninh kết luận: ông Đinh Khắc D bị thương tích: vết thương phức tạp nằm ngang 1/3 dưới mặt ngoài cẳng tay trái hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải khi dơ tay lên gồm những tổn thương sau: vết thương đã được khâu phục hồi, hiện còn rỉ dịch màu hồng hình chữ “V” dài 11.5cm; gãy 1/3dưới xương quay tay trái; vết thương phần mềm mặt mu đốt I ngón II bàn tay trái hướng từ trên xuống dưới từ trái sang phải khi dơ tay lên, hình vòng cung đinh quay lên trên, bề lõm quay xuống dưới dài 2,5cm, tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 16%.

Tại cáo trạng số 42/KSĐT-HS ngày 10/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Lê Khắc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, d khoản 1) Điều 104 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ nguyên quyết định truy tố theo cáo trạng đối với bị cáo Lê Khắc T về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị áp dụng: khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, d khoản 1) Điều 104; điểm b, p khoản 1; khoản 2 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7; điểm a, c khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Lê Khắc T từ 24 (hai mươi bốn) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 (Bốn mươi tám) tháng đến 60 (Sáu mươi) tháng. Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại là vật chứng vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, đã xác định được như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 06/10/2017, tại nhà ông Đinh Khắc D tại thôn 9, xã Đ, huyện H, Lê Khắc T có hành vi dùng thanh kim loại đánh ông Đinh Khắc D, sinh năm 1938, gây thương tích cho ông Đinh Khắc D tổn hại 16% sức khỏe.

[2] Hành vi của Lê Khắc T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, d khoản 1) Điều 104 Bộ luật hình sự.

Điều 104 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…

a) Dùng hung khí nguy hiểm…

d) Đối với người già yếu…

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

[3] Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tại phiên tòa hôm nay đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị

áp dụng điều luật cũng như mức hình phạt đối với bị cáo. HĐXX thấy rằng cáo trạng mà VKSND H truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Lời luận tội của đại diện VKSND H là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

(Ngoài ra, căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 và khoản 3 Điều 7; điểm a, c khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự 2015 cần áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội.

Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) dùng hung khí nguy hiểm…

c) đối với người già yếu…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này…”

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe người bị hại. Bị cáo là người thành niên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, giữa bị cáo và người bị hại không có mâu thuẫn gì sâu sắc, nên áp dụng một mức án phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi khi trước đó thấy bị cáo vô cớ đến nhà đập của nên lo sợ kẻ gian quấy phá đã dùng cây sắt chọc vào mồm bị cáo, tuy nhiên bị cáo bị thương tích nhẹ không đề nghị giám định nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, người bị hại đã chủ động xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

[7] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[8] Sau khi xem xét, đánh giá nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, HĐXX thấy bị cáo phạm tội do manh động, nhất thời và người bị hại có một phần lỗi; được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ; nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo tại tạo trong sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ răn đe đối với bị cáo. Do vậy áp dụng điều 60 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

[9] Về phần dân sự: Hai bên đã tự thỏa thuận giải quyết; không ai có ý kiến kiến nghị, yêu cầu gì nên không đề cập giải quyết.

[10] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 thanh kim loại (dài 1,34m, hình vuông, đường kính 2,5cm, bên trong rỗng) là công cụ phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[11]Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

[12] Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Lê Khắc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; khoản 1; khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự.

(Ngoài ra: bị cáo còn được áp dụng các quy định có lợi căn cứ theo Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 và khoản 3 Điều 7; điểm a, c khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự 2015)

Xử phạt: Lê Khắc T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Khắc T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại dài 1,34m, hình vuông, đường kính 2,5cm, bên trong rỗng (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/11/2017 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện H và Chi Cục thi hành án dân sự huyện H)

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Buộc bị cáo Lê Khắc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, có mặt người bị hại. Báo cho bị cáo và người bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


57
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về