Bản án 42/2017/HNGĐ-ST ngày 28/06/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 42/2017/HNGĐ-ST NGÀY 28/06/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 28 tháng 6 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 63/2017/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 2 năm 2017 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Thanh H, sinh năm 198X; đăng ký thường trú: Số 20 A 48 khu tập thể X.M, phường L.S, quận L.C, TP. Hải Phòng; hiện trú tại: Số 2 P P T, phường H.L, quận H.B, thành phố Hải Phòng; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Phan Thành D, sinh năm 198Y; đăng ký thường trú và chỗ ở: đăng ký thường trú: Số 20 A 48 khu tập thể X.M, phường L.S, quận L.C, TP.

Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong đơn xin ly hôn đề ngày 15/02/2017, bản tự khai ngày 22/ 02/2017 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Thị Thanh H trình bày:

Chị và anh Phan Thành D xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L.S, Quận L.C, thành phố Hải Phòng ngày 11/11/2005, đến nay đã có một con chung. Trong quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được mấy năm sau đó phát sinh mâu thuẫn do anh D hay cờ bạc phá tán tài sản, rồi lại bạo hành, đánh chửi chị khi không có tiền. Chị đã cố gắng chịu đựng, nhưng không có kết quả, anh D không thay đổi chỉ , không chăm lo cho cuộc sống của gia đình, gia đình anh D cũng thường xuyên khuyên giải nhưng anh D không nghe còn định đánh cả bố mẹ. Chị đã bỏ đi ra ngoài thuê nhà ở từ năm 2015 và nộp đơn ly hôn ra Tòa nhưng rồi phải rút lại vì anh D không buông tha, tìm đến nhà trọ gây sự chửi đánh nên chị phải bỏ về quê ở H N sống một thời gian. Cuối năm 2016 chị về Hải Phòng thuê nhà trọ ở để tiếp tục làm việc tại trường mẫu mầm non thì anh D tìm đến nơi chị làm việc để đe dọa, chửi bới. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị không thể tiếp tục chung sống với người chồng như vậy nên đề nghị Tòa án nhân dân Quận Lê Chân giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phan Vũ Ngọc H sinh ngày 10/7/200Z, nay ly hôn chị nhận nuôi con, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phan Thành D không có mặt theo giấy triệu tập, không gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

- Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng, thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật; bị đơn đã không chấp hành quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án; căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu Tòa án đã thu thập thể hiện mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không tồn tại nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là anh Phan Thành D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. [2]. Về hôn nhân:

Anh Phan Thành D và chị Vũ Thị Thanh H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện; đăng ký kết hôn ngày 11/11/2005 của Ủy ban nhân dân phường L.S, Quận L.C, thành phố Hải Phòng theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 101, quyển số 01 (BL số 08) nên được coi là hôn nhân hợp pháp.

Chị Lê Thị Thanh H khai: Mâu thuẫn phát sinh do anh D hay hay chơi cờ bạc, không chăm lo cho cuộc sống của gia đình và hay bạo hành, đánh chửi chị. Chị đã cố gắng khuyên giải và nhờ gia đình anh D giúp đỡ nhưng đều bất lực, nên chị phải ra ngoài thuê nhà ở để ly thân với anh D từ tháng 10/2016 đến nay. Đầu năm 2016 chị nộp đơn ly hôn ra Tòa xin ly hôn thì anh D tìm chị đe dọa, chửi bới, vì sợ anh D hành hung nên chị phải rút đơn lại và chuyển lên H.N ở tạm lánh một thời gian. Đến nay, biết chị tiếp tục xin ly hôn, anh D đã nhắn tin chửi bới đe dọa chị và lãnh đạo trường mầm non nơi chị công tác. Lời khai của chị H phù hợp nội dung biên bản xác minh tại trường mầm non M.B cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa.

Xét chị H và anh D tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp; nay chị H có đơn xin ly hôn, anh D có biết vì đã được Toà án tống đạt thông báo thụ lý cùng các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, là tự tước bỏ quyền lợi của mình trước tòa, đồng thời thể hiện anh D không có thiện chí hoà giải để vợ chồng đoàn tụ. Việc vợ chồng có mâu thuẫn và đã sống ly thân gần một năm nhưng tình cảm không hề cải thiện chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa họ đã trầm trọng, anh D vẫn tiếp tục có hành vi bạo hành với chị H nên đời sống chung không thể kéo dài do mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H để bảo vệ phụ nữ là phù hợp với các qui định tại các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

 [3]. Về con chung: Cháu Phan Vũ Ngọc H sinh ngày 10/7/200Z đang ở với anh D cùng ông bà nội và có đơn xin được ở với mẹ. Anh D không có mặt theo giấy triệu tập là tự tước bỏ quyền lợi của mình trước tòa nên cần căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự; cần giao thì cháu Phan Vũ Ngọc H cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp, bảo đảm quyền lợi của phụ nữ và con chung.

Việc cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên không đặt ra.

 [4]. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xét. [5]. Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, 56, 81,82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 91, khoản 4 Điều 147 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chị Vũ Thị Thanh H được ly hôn với anh Phan Thành D.

- Về con chung: Giao con Phan Vũ Ngọc H sinh ngày 10/7/200Z cho chị Vũ Thị Thanh H nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về án phí: Chị Vũ Thị Thanh H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo biên lai thu tiền số

0014643 ngày 15 tháng 02 năm 2017. Chị H đã nộp đủ tiền án phí

- Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị Thanh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phan Thành D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2017/HNGĐ-ST ngày 28/06/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:42/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Lê Chân - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/06/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về