Bản án 414/2019/HSST ngày 16/12/2019 về tội cướp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 414/2019/HSST NGÀY 16/12/2019 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 433/2019/TL.HSST ngày 08 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 445/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Th.T, sinh ngày 22/12/1990 tại Thành phố Hà Nội; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: số 202/401 N.L, tổ 24, phường N.L, quận L, thành phố Hà Nội; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn V.Q và bà Lưu T.Đ; Danh chỉ bản số 000000268, lập ngày 22/4/2019 tại Trại tạm giam số 1 (PC11A) Công an Thành phố Hà Nội; Tiền án tiền sự: không; Bắt truy nã và tạm giữ ngày 18/4/2019; Tạm giam ngày 21/4/2019; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn A.Th, luật sư Nguyễn T.H – Văn phòng luật sư NA thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; Có mặt.

Bị hại: Anh Trần MQ, sinh năm 1988; Hộ khẩu thường trú: Tổ 7, phường TB, quận L, CT phố Hà Nội; Chỗ ở: phố T, phường C, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản cáo trạng truy tố bị cáo và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Th.T (sinh năm 1990; Chỗ ở: số 202/401, phố N.L, tổ 24, phường N.L, quận L, CT phố Hà Nội) và anh Trần MQ (sinh năm 1988; Hộ khẩu thường trú: Tổ 7, phường TB, quận L, CT phố Hà Nội; Chỗ ở: số 88/33 phố T, phường C, quận Đ, CT phố Hà Nội) có quan hệ là bạn bè quen biết. Khoảng cuối năm 2016, T cho anh MQ vay số tiền 9.000.000 đồng nhưng đến hạn anh MQ không có tiền trả nợ. Do bực tức, nên khoảng 19 giờ ngày 23/02/2017, T liên lạc với anh MQ trên mạng Facebook và đòi anh MQ phải trả nợ số tiền 9.000.000 đồng. Anh MQ tiến tục khất nợ thì T hỏi và biết anh MQ đang chơi game ở quán Net tại số nhà 706, phố N.L, quận L, CT phố Hà Nội. T bảo anh MQ chuẩn bị đi ra cửa quán Game gặp T đế nói chuyện trả nợ.

Sau khi liên lạc với anh MQ xong, T gọi điện thoại cho bạn là Ngô CT (sinh năm 1994; Đăng ký hộ khẩu thường trú tại: thôn N, xã Tr, huyện Th, tỉnh Y; hiện đang thuê ở trọ tại quận L, CT phố Hà Nội) và nói cho CT biết về việc anh MQ đang chơi tại quán Game - số 706, phố N.L. T bảo CT đến quán Game để cùng đòi tiền MQ thì CT đồng ý. Sau đó, T lấy xe máy đi từ nhà T đến quán Game ở số nhà 706, phố N.L. Đến nơi, T xuống xe đứng nói chuyện với anh MQ ở gần gốc cây xà cừ cạnh quán Game. Một lúc sau, CT cũng đi xe máy từ nhà văn hoá phường N.L, quận L đến quán Game thì thấy T đang đứng nói chuyện với anh MQ. CT dựng xe máy ở ven đường đi đến gần T và MQ. CT hỏi tiền MQ nợ T thì MQ nói không có tiền và muốn gán cho T chiếc đồng hồ của MQ nhưng T không đồng ý và yêu cầu MQ phải trả tiền. Ngay lúc này, T giơ tay phải tát 02 cái vào má trái của anh MQ làm rơi chiếc kính anh MQ đang đeo xuống đất. Vừa tát, T vừa nói: Bây giờ mày tính thế nào, tiền của tao đâu”. Anh MQ trả lời: uEm chưa có. khi nào có em trả”. Thấy T đánh anh MQ để đòi tiền, CT lao vào dùng tay phải đấm 01 phát vào vùng mắt bên phải của anh MQ làm anh MQ bị thương ôm mặt ngồi xuống đất. Cùng lúc này, T tiếp tục đòi nợ anh MQ và yêu cầu anh MQ phải gọi điện về cho bố mẹ, để T nói chuyện. Anh MQ nói với T là không có điện thoại, không nhớ số điện thoại. Thấy vậy, T yêu cầu anh MQ phải đưa T về nhà bố mẹ anh MQ đế lấy tiền trả T. Anh MQ vào quán Game để tắt máy chơi Game rồi đi ra ngoài. T lấy xe máy điều khiển chở anh MQ ngồi giữa, CT ngồi kẹp phía sau, đi theo đường do anh MQ chỉ đến nhà ông Nguyễn V.Th (Sinh năm 1961;Trú tại tổ 7, phường TB, quận L, Thành phố Hà Nội; Là bác ruột của anh MQ). Khi đến nơi, T và CT dừng xe ở ngoài cổng; còn anh MQ đi vào trong nhà. Một lúc sau, ông Th đi ra gọi T vào trong nhà nói chuyện nên T đi vào nhà ông Th, còn CT đứng đợi ở cổng. T nói với ông Th về việc anh MQ nợ của T 9.000.000 đồng chưa trả, ông Th nói để MQ đi làm rồi trả dần. Thấy ông Th nói vậy, T đứng dậy đi ra chỗ CT, cùng lúc đó có 02 thanh niên (không quen biết) đến gây sự và đe dọa nên T cùng CT để lại xe máy bỏ chạy ra ngoài. T gọi điện cho bạn là Hà M (sinh năm 1990; Trú tại phường G, quận L) và Hoàng N (sinh năm 1992; Trú tại phường S, quận L) đến nhà ông Th để đánh 02 thanh niên trên nhưng chỉ có Hà M đến còn CT bỏ đi về nhà. Khi T và Hà M đang nói chuyện thì thấy 02 đồng chí Công an đi đến nên Hà M và T bỏ đi về. Lúc này ông Th thấy anh MQ bị thương ở mắt phải, mồm chảy máu nên hỏi thì được biết anh MQ bị T và CT đánh gây thương tích. Ông Th đã đưa anh MQ đến Công an phường G, quận L trình báo; Sau đó anh MQ được gia đình đưa đến Bệnh viện Thanh Nhàn khám và điều trị.

Sau khi xảy ra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng và trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của anh Trần Minh MQ. Kết quả như sau:

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án hồi 09h00 ngày 24/02/2017 tại khu vực trước quán Net - số 706 N.L, phường G, quận L, Thành phố Hà Nôi thể hiện:

... - Hiện trường đã bị xáo trộn.

- Hiện trường xảy ra vụ án được xác định là tại khu vực vỉa hè trước quán Net số 706, phố N.L, phường G, quận L, Thành phố Hà Nội được lát gạch đá rộng 3mét, lòng đường phía N.L trước cửa quán Net số 706 là đường bê tông trải nhựa rộng 6,5mét, hai bên đường có vỉa hè. Dọc theo bên mặt đường phía Đông đường N.L có trồng hàng cây xà cừ to. Tại vị trí cách quán net – số 706 N.L 3,2 mét về phía Tây Nam có trồng 01 cây xà cừ (trước cửa nhà số 704). Vị trí này được xác định là nơi xảy ra sự việc, kiểm tra, xem xét khu vực xung quanh hiện trường không phát hiện dấu vết gì có liên quan đến vụ việc”.

Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích sô 402/TTPY ngày 17/5/2017 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Hà Nội, kết luận thương tích của anh Trần Minh MQ như sau:

1. Chấn thương mắt phải, phù võng mạc vùng hậu cực, có hình ảnh rối loạn biểu mô sắc tố vùng hậu cực, dịch kính vẩn đục rải rác, mắt phải giảm thị lực 20/400 (mắt trái 20/70): 45% (tạm thời).

2. Các chạm thương phần mềm vùng đầu, mũi: Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 không có chương mục nào quy định tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với các chạm thương này.

3. Nhiu khả năng thương tích và các chạm thương do vật tày gây nên. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 45% (tạm thời)”.

Sau khi phạm tội, Nguyễn Th.T bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Đến ngày 18.4.2019, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hà Nội bắt theo lệnh truy nã. Đối với Ngô CT đã bị Cơ quan điều tra khởi tố vụ án và khởi tổ bị can về tội Cướp tài sản. Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 432/HSST ngày 15/11/2018 của Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội đã tuyên phạt bị cáo Ngô CT 13 năm tù về tội “Cướp tài sản”, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Th.T đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Trần MQ số tiền 40.000.000 đồng. Anh MQ đã nhận tiền, không yêu cầu bồi thường gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Th.T.

- Tại bản cáo trạng số 365/CT-VKS-P2 ngày 31/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Th.T về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Tại phiên tòa:

+ Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều khoản luật viện kiểm sát áp dụng truy tố bị cáo; Khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra; Ăn năn hối cải; Bị cáo đã bồi thường cho anh MQ 40.000.000 đồng và không yêu cầu Ngô CT phải hoàn trả lại cho bị cáo tiền bị cáo đã bồi thường cho anh MQ; Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

+ Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Th.T về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 và đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 13 năm tù; Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại. Bị hại không yêu cầu gì khác nên không xét.

+ Các luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm: nhất trí với tội danh, điều, khoản Luật Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ việc bị hại vay nợ tiền của bị cáo T nhưng không trả nên bị cáo có hành vi vi phạm pháp luật; Bị cáo thành khẩn khai báo; Ăn năn hối cải; Đã bồi thường cho bị hại; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng; Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều cơ bản bảo đảm đúng quy định của bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; Phù hợp với lời khai của Ngô CT; Lời khai của bị hại; Bản kết luận giám định pháp y thương tích của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ việc anh Trần MQ nợ Nguyễn Th.T số tiền 9.000.000 đồng từ năm 2016 chưa trả. Ngày 23/02/2017, khi biết anh MQ đang chơi Game tại số 706 phố N.L, phường G, quận L, thành phố Hà Nội, T đã gọi điện rủ Ngô CT đến gặp anh MQ để đòi nợ. Tại đây, sau khi T đòi tiền anh MQ không được thì đã dùng tay tát 02 phát vào má trái của anh MQ; CT dùng tay phải đấm 01 phát vào vùng mắt phải của anh MQ, gây thương tích, tổn hại sức khoẻ ở mắt phải là 45% để bắt anh MQ trả nợ ngay cho T số tiền 9.000.000 đồng. Sau đó, T và CT đã đưa anh MQ về nhà ông Nguyễn Văn Th là bác ruột của anh MQ để nói chuyện về việc anh MQ nợ tiền của T không trả sau khi ông Th nói để MQ đi làm lấy tiền trả dần cho T thì T và CT bỏ về.

Với hành vi đông người tạo áp lực bằng việc dùng tay đánh, tát, gây thương tích cho anh MQ, làm cho anh MQ không thể kháng cự lại, nhằm buộc anh MQ phải đưa ngay tiền đã vay nợ cho T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Th.T về tội “Cướp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3] Nguyễn Th.T thực hiện hành vi phạm tội trước 00 giờ ngày 01/01/2018 (ngày Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật) nên căn cứ Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 và nghị quyết số 41 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành bộ luật hình sự năm 2015; Xét xử Nguyễn Th.T về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 168 Bộ luật Bộ luật hình sự năm 2015 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Nguyễn Th.T và Ngô CT là đồng phạm cùng thực hiện hành vi phạm tội trong đó T giữ vai trò chủ mưu rủ CT đi gây áp lực về tinh thần đối với anh MQ, trực tiếp tát anh MQ để đòi nợ; Ngô CT giữ vai trò thực hành tích cực, là người trực tiếp đấm, gây thương tích cho anh MQ nên mức hình phạt đối với T phải cao hơn mức hình phạt đối với CT. Với hành vi phạm tội nêu trên, Ngô CT đã bị Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 13 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (Bản án hình sự sơ thẩm số 432/2018/HSST ngày 15/11/2018 của Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội).

Khi lượng hình đối với Nguyễn Th.T nhận thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự;

Tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn; Ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đã bồi thường thương tích cho anh MQ; Anh MQ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Trách nhiệm dân sự: bị hại anh Trần MQ đã được bị cáo Nguyễn Th.T bồi thường thiệt hại nên không yêu cầu bồi thường gì khác. Do vậy, không xét.

[6] Nguyễn Th.T không yêu cầu Ngô CT phải hoàn trả lại cho T số tiền mà T đã bồi thường thiệt hại cho anh Trần MQ nên không xét.

[7] Về hình phạt bổ sung: tài liệu điều tra thu thập được thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập và không có tài sản riêng nên không phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Nguyễn Th.T phạm tội “Cướp tài sản”.

2. Áp dụng: điểm b khoản 3 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 Xử phạt: Nguyễn Th.T 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2019.

3.Trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần MQ không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xét.

4. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức, thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: bị cáo Nguyễn Th.T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) - án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại anh Trần MQ vắng mặt tại phiên toà, được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 414/2019/HSST ngày 16/12/2019 về tội cướp tài sản

Số hiệu:414/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/12/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về