Bản án 41/2019/HS-ST ngày 30/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 41/2019/HS-ST NGÀY 30/01/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 30 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Đỗ Văn N, sinh năm 1991; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số nhà 03/261 Lê Thánh T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn D và bà Lê Thị T; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/7/2010, Công an TP Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2018 đến ngày 30/9/2018 chuyển tạm giam. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00h 30’ngày 24/9/2018, tại khu vực ngõ 271 Lê Thánh T, phườngĐ, TP T, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phát hiện, nghi vấn Đỗ Văn N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đến yêu cầu kiểm tra, N đã ném 01 chiếc hộp sắt xuống dưới đất sát bụi chuối bên hông số nhà 06A/271. Tổ công tác đã thu giữ chiếc hộp sắt, kiểm tra bên trong phát hiện có 01 gói nilon màu trắng kích thước (01 x 01) cm chứa các hạt tinh thể màu trắng. N khai gói trong hộp sắt là ma túy đá, mục đích N cất dấu để sử dụng. Tổ công tác đã đưa Đỗ Văn N về trụ sở Công an phường Đ, TP T lập biên bản phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật (BL 01, 02).

Tại bản kết luận giám định số 2043/MT-PC09 ngày 27/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,380 gam, loại Methamphetamine ( BL 27).

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 02/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo Đỗ Văn N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.

Về vật chứng: đề nghị áp dụng khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo còn lại sau giám định.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an TP T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP T, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo khai, tối ngày 22/9/2018, N đến nhà Lê Minh D (D Sẹo), sinh năm 1985, ở 343 Lê Thánh T, phường Đ, TP T. Tại đây D đưa 01 gói ma túy cho N và nhờ N đi bán giúp. N cầm gói ma túy D đưa đi về nhà và không nói gì với D, nhưng do bản thân là đối tượng nghiện ma túy nên N không mang ma túy đi bán mà cất gói ma túy D đưa vào hộp sắt (dạng hộp đựng kẹo cao su), mục đích để sử dụng. Đến 00h 30’ ngày 24/9/2018, N mang chiếc hộp sắt bên trong có chứa gói ma túy đá đi đến trước số nhà 06A/261 Lê Thánh T, phường Đ, TP T để tìm nơi sử dụng, khi chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phát hiện bắt quả tang thu giữ gói ma túy, qua giám định có tổng khối lượng 0,380 gam, loại Methamphetamine.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạmtội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy nói chung và Methamphetamine nói riêng là chất gây nghiện được nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mặt khác còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội.

[4]. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 15/7/2010, bị cáo bị Công an TP T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[6]. Đối với Lê Minh D, theo N khai là người đã đưa gói ma túy nhờ N bán hộ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở, đồ vật, phương tiện nhưng không phát hiện, thu giữ được gì. Cơ quan điều tra đã làm việc với D, tiến hành đối chất giữa D và N nhưng D không thừa nhận vào tối ngày 22/9/2018 đã đưa gói ma túy cho N mang đi bán, việc N khai D là người đưa gói ma túy nhưng không có ai thấy, ai biết nên không đủ cơ sở để xử lý đối với Lê Minh D.

 [7] Đối với vật chứng: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá là vật cấm lưu hành, nên cần áp dụng khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy này.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Đỗ Văn N 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 24/9/2018 .

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì được đóng dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 67/THA ngày 04/01/2019 giữa Công an thành phố Thanh Hóa với Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tạiĐiều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


76
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2019/HS-ST ngày 30/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:41/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về