Bản án 41/2019/HSST ngày 23/04/2019 về tội cướp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 41/2019/HSST NGÀY 23/04/2019 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN

Hôm nay ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện Long Thành tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2019/HSST, ngày 20 tháng 3 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Lã Thế H (Heo), sinh năm 1989 tại Vĩnh Phúc; Hộ khẩu thường trú: Ấp 1, xã Tân Hiệp, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lã Thế P và bà Trần Thị X; bị cáo là con thứ tư trong gia đình có 05 anh em; chưa có vợ con; tiền án: Ngày 24/02/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2017; tiền sự: Ngày 20/9/2016 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai theo Quyết định số 100/2016/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, bỏ trốn tháng 11/2016; Nhân thân: ngày 14/5/2013 bị đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm giáo dục – lao động xã hội tỉnh Đồng Nai, chấp hành xong ngày 15/5/2015; bị cáo bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 08/12/2018 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành.

Người bị hại: Bà Văn Thu D, sinh năm: 1968.

Địa chỉ: Ấp 1C, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo H có mặt tại phiên tòa, người bị hại bà D vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lã Thế H đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Vào lúc 13 giờ ngày 07/12/2018 Lã Thế H đi ngang qua phòng trọ của bà Văn Thu D ở ấp 1C, xã Phước Thái, huyện Long Thành, H thấy bà D dựng xe mô tô biển số 72K1-470.12 trước cửa phòng trọ để mở cửa (trên xe có sẵn chìa khóa), nên H ngồi lên xe mô tô của bà D để chiếm đoạt thì bị bà D phát hiện và dùng tay đẩy H xuống khỏi xe, nhưng không được. Lúc này H dùng tay đẩy mạnh vào người bà D làm bà D té ngã xuống đất, rồi H nổ máy điều khiển xe bỏ chạy nên bà D cầm tay nắm đuôi xe phía sau giữ lại thì H tiếp tục tăng ga và điều khiển xe bỏ chạy kéo lê bà D dưới đất một đoạn khoảng 02m, do bị đau tay bên bà D buông tay ra thì H điều khiển xe mô tô chạy thoát.

Sau khi chiếm đoạt được xe mô tô biển số 72K1-470.12 của bà D, H điều khiển xe đến phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu mở cốp xe mô tô kiểm tra phát hiện trong cốp xe của bà D có 01 cái ví bên trong đó có 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 và số tiền 2.500.000 đồng, nên H lấy số tiền 850.000 đồng mua ma túy sử dụng. Đến 16 giờ cùng ngày H đột nhập vào 01 nhà dân ở phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu để trộm cắp tài sản nhưng chưa thực hiện được thì bị phát hiện bắt giữ giao Công an phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Tại đây H đã khai nhận việc chiếm đoạt tài sản nêu trên, nên Công an phường Mỹ Xuân chuyển giao người và vật chứng đến công an xã Phước Thái, chuyển công an huyện Long Thành điều tra theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 120 ngày 11/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng huyện Long Thành kết luận 01 xe mô tô biển số 72K1-470.12 có giá trị 2.400.000 đồng.

Về vật chứng: 01 xe mô tô biển số 72K1-470.12; 01 cái ví da màu đỏ; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 và số tiền 2.500.000 đồng (đã thu hồi 1.650.000 đồng) trả lại cho người bị hại.

Trước cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành, bị cáo Lã Thế H không thừa nhận hành vi cướp tài sản mà cho rằng mình chỉ phạm tội trộm cắp tài sản.

Tại Cáo trạng số 50/CT-VKSLT, ngày 18 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo Lã Thế H về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lã Thế H: 04 – 05 năm tù giam.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xét.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về chứng xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Theo lời khai của bị cáo Lã Thế H tại biên bản ghi lời khai ngày 07/12/2018 (bút lục 03 -04); biên bản ghi lời khai ngày 08/12/2018 (bút lục 55 – 56); biên bản hỏi cung bị can ngày 17/12/2018, ngày 18/01/2019 (bút lục 61 – 63); bản tự khai ngày 17/12/2018 (bút lục 64) và các lời khai tại phiên tòa thì bị cáo đều thừa nhận “ Khi bị cáo ngồi lên xe của người bị hại để chiếm đoạt thì người bị hại phát hiện và chạy lại ôm lấy tay bị cáo để kéo bị cáo xuống khỏi xe. Lúc này bị cáo dùng tay đẩy mạnh người bị hại ngã xuống đất và lấy xe chạy về hướng xã Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu”. Theo quy định tại tiểu mục 6.2, mục 6 phần I của Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BCA-BTP ngày 25/12/2001 quy định “Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là "hành hung để tẩu thoát" mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản”. Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử đã có cơ sở kết luận: Vào lúc 13 giờ ngày 07/12/2018 tại phòng trọ của bà Văn Thu D ở ấp 1C, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo Lã Thế H đã có hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt của bà Văn Thu D 01 xe mô tô biển số 72 K1 – 470.12 có giá trị 2.400.000 đồng. Hành vi của bị cáo Lã Thế H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo Lã Thế H với tội danh “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mặt khác gây ảnh hưởng xấu về an ninh và trật tự trong xã hội. Bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi và hậu quả do hành vi của mình gây ra nhưng do tham lam, lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố ý phạm tội và thực hiện tội phạm đến cùng. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Về tình tiết tăng nặng:

- Tiền án: Ngày 24/02/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2017 , chưa được xóa án tích mà phạm tội mới. Nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Tiền sự: Ngày 20/9/2016 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai theo Quyết định số 100/2016/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, bỏ trốn tháng 11/2016.

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của pháp luật giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho người bị hại và người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét. Đối với số tiền 850.000 đồng (trong tổng số 2.500.000 đồng) bị cáo chiếm đoạt của người bị hại và bị cáo sử dụng mua ma túy, người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

[6]. Về vật chứng: 01 xe mô tô biển số 72K1-470.12; 01 cái ví da màu đỏ; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 và số tiền 1.650.000 đồng đã trả lại cho người bị hại nên không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lã Thế H (Heo) phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lã Thế H: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo là ngày 08/12/2018.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Lã Thế H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lã Thế H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Người bị hại bà Văn Thu D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. 


68
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về