Bản án 05/2019/HSST ngày 31/01/2019 về tội cướp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 05/2019/HSST NGÀY 31/01/2019 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN

Ngày 31 tháng 01 năm 2019, tại H4 trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 06/2019/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST- HS, ngày 21 tháng 01 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Ngô Ngọc L, sinh năm 1985 tại huyện TT, thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và hiện trú tại: Đội X, xã TTO, huyện TT, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Ngô Văn L1, sinh năm 1953 và bà Lê Thị H, sinh năm 1959; Vợ là Vũ Thị Hồng T1, sinh năm 1994; con: Chưa có.

Nhân thân:

+  Ngày  30/6/2006  Ngô  Ngọc  L  phạm  tội  Cướp  tài  sản.  Bản  án  số591/2007/HSPT ngày 29/9/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Ngô Ngọc L 7 năm 3 tháng tù về tội Cướp tài sản. Ngày 30/8/2010 L chấp hành xong bản án. Đã được xóa án tích.

Tiền án: Bị can có 01 tiền án, chưa được xóa án tích:

+ Ngày 10/6/2011, Ngô Ngọc L phạm tội Đánh bạc. Bản án số 168/HSST ngày 16/3/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Ngô Ngọc L 15 tháng tù về tội Đánh bạc. Ngày 10/9/2012, L chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 02/10/2018, L mới chấp hành xong án phí sơ thẩm hình sự 200.000 đồng và tiền phạt 3.000.000 đồng.

Bị cáo Ngô Ngọc L bị tạm giữ từ ngày 23/9/2018 đến ngày 26/9/2018 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi- Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Đình G, sinh năm 1995 tại huyện SS, thành phố Hà Nội; Nơi đăng ký HKKT và hiện trú tại: Thôn BH, xã QT, huyện SS, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Đình L2, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo Nguyễn Đình G bị tạm giữ từ ngày 23/9/2018 đến ngày 26/9/2018 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi- Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Viết T, sinh năm 1999 tại huyện GL, tỉnh Hải Dương; Nơi đăng ký HKTT và hiện trú tại: Thôn TT, xã LH, huyện GL, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1977 và bà Vũ Thị H2- Đã chết; Vợ, con: Chưa có;

Tiền sự: Chưa;

Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa án tích.

+ Ngày 22/02/2017,  Nguyễn Viết T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bản án số 43/2017/HSST ngày 22/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc xử phạt Nguyễn Viết T 18 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 29/7/2018, T chấp hành xong bản án.

Bị cáo Nguyễn Viết T bị bắt tạm giam từ ngày 04/10/2018 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi- Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.

4. Đoàn Hữu D, sinh năm 1990 tại huyện GL, tỉnh Hải Dương; Nơi đăng ký HKTT và hiện trú tại: Thôn ĐT, xã HD, huyện GL, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Đoàn Hữu D1, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị D2 sinh năm 1962; Có vợ là Hoàng Thị Vân H3, sinh năm 1990 và 01 con sinh năm 2014: Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo Đoàn Hữu D bị bắt tạm giam từ ngày 04/10/2018 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi- Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.

2.2 Người bị hại:

- Anh Phạm Quang T3, sinh năm 1983 (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Khu X, thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương.

2.3 Người làm chứng:

- Anh Tăng Văn H4, sinh năm 1987 (có mặt);

Địa chỉ: Thôn PT, xã GT, huyện GL, tỉnh Hải Dương.

- Chị Phạm Thị H5, sinh năm 1987 (vắng mặt không có lý do);

Địa chỉ: Khu, thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Anh Tăng Văn H4, sinh năm 1987, ở thôn PT, xã GT, huyện GL, tỉnh Hải Dương có mở quán Hỗ trợ tài chính tại số 240 đường Y, thị trấn GL, huyện GL. Quá trình kinh doanh, anh H4 có thuê Nguyễn Đình G, Ngô Ngọc L, Đoàn Hữu D và Nguyễn Viết T làm nhân viên của quán. Ngày 10/3/2018 và ngày 30/4/2018, chị Phạm Thị H5, sinh năm 1987, ở Khu X, thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương đến quán Hỗ trợ tài chính vay của anh H4 với tổng số tiền là 50.000.000 đồng. Quá trình vay tiền thì chị H5 không nói cho anh Phạm Quang T3, sinh năm 1983 là chồng biết (Chị H5 không dùng số tiền vay của anh H4 vào việc chi tiêu chung của gia đình). Đến hạn thanh toán trả nợ nhưng không thấy chị H5 nói gì về việc trả nợ, nên vào khoảng giữa tháng 9/2018 H4 có bảo Ngô Ngọc L đến nhà chị H5 xem chị H5 có ở nhà không để H4 xuống nói chuyện về việc trả nợ (H4 không bảo L xuống dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực để lấy tiền). Tại đây, L đã gặp anh T3 (là chồng chị H5), chị H5 không có mặt ở nhà, nên L đã đòi anh T3 số tiền nợ của chị H5. Lúc này, anh T3 mới biết chị H5 vay tiền của anh H4 nên đã nói với L về việc anh T3 không vay tiền, không liên quan gì đến số tiền vay đó, do vậy anh T3 không có trách nhiệm phải trả tiền. Nghe anh T3 nói vậy thì L đi về.

Đến khoảng 17 giờ ngày 22/9/2018, trong khi ngồi ở quán Hỗ trợ tài chính thì L có rủ Nguyễn Đình G, Nguyễn Viết T và Đoàn Hữu D cùng đi đến chỗ quầy bán xổ số của anh T3 ở Khu 1, thị trấn GL, huyện GL với mục đích bắt anh T3 phải trả tiền. Lúc này, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha- Sirius màu đỏ (không xác định được biển kiếm soát do T mượn trước đó của một người bạn tên T4 ở thành phố Hải Dương) chở Nguyễn Đình G; còn D điều khiển xe Sirius màu đỏ- đen (không xác định được biển kiểm soát do D mượn trước đó của một người bạn tên T5 ở huyện TK) chở L. Đến nơi thì L, G, D và T xuống xe, đi đến chỗ anh T3 đang bán xổ số. Lúc này, L ngồi bên trái, G ngồi bên phải anh T3, còn D và T đứng trước mặt anh T3. Tại đây, L nói với anh T3 về việc trả số tiền mà trước đó vợ chồng anh T3 đã vay của anh H4. Trong lúc L và anh T3 nói chuyện thì T lấy tập vé số trên bàn, cầm đập vào tay rồi đi lại trước mặt anh T3, anh T3 có lấy lại tập vé số nhưng T không đưa. Thấy L nói vậy, anh T3 nói việc nợ tiền là do chị H5 vay, anh T3 không có trách nhiệm phải trả tiền. Nghe anh T3 nói vậy thì ngay tức khắc L dùng tay phải tát một cái vào mặt anh T3, đồng thời tiếp tục nói anh T3 phải trả tiền, L tiếp tục giơ tay lên tát thì anh T3 đứng dậy lùi về phía sau, L cũng đứng dậy làm chiếc bàn vé số đổ ra đường. Thấy vậy, G dùng chân trái đạp vào bàn vé số rồi đứng dậy, T tiến lại vứt cọc vé số xuống bàn rồi cùng L và G áp sát, dồn anh T3 về phía nhà dân, D đứng gần đó để cùng uy hiếp mục đích để làm cho anh T3 sợ hãi buộc phải đưa tiền. L tiếp tục đòi tiền anh T3 đồng thời tay phải giữ gáy, tay trái túm cổ áo rồi dùng chân phải ghì từ phía sau, giật mạnh làm anh T3 ngã xuống đường. Quá trình L giật ngã thì G đứng cạnh dùng chân trái đạp vào người anh T3. Lúc này, anh T3 vẫn đang ngồi dưới đường, L tiếp tục đi vòng quanh anh T3, quát nạt yêu cầu anh T3 trả tiền đồng thời dùng tay trái tát vào mặt anh T3, đầu gối bên phải đánh trúng vào mạng sườn bên phải anh T3, rồi dùng tay phải kẹp cổ anh T3 từ phía sau, bóp quai hàm, yêu cầu anh T3 phải trả tiền ngay. D, T và G đều thấy và đồng tình với việc L dùng vũ lực đối với anh T3, cùng đứng cạnh đó để hỗ trợ mục đích để làm anh T3 sợ hãi phải đưa tiền. Do bị đánh và quá sợ hãi nên anh T3 buộc phải đồng ý đưa tiền, đứng dậy đi về phía bàn vé số thì D dựng bàn lên. L tiếp tục hỏi anh T3 trả bao nhiêu tiền? anh T3 nói: Trả tạm 1 đến 2 triệu nhưng L không đồng ý, yêu cầu T3 phải trả số tiền 10.000.000 đồng. Do phải trả tiền khách mua xổ số nên anh T3 nói tiền còn phải trả khách hàng. Nghe vậy, G yêu cầu T3 phải trả số tiền 5.000.000 đồng thì anh T3 đồng ý. Thấy G nói vậy nên L, T và D cùng đồng ý chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng của anh T3. Do sợ hãi nên anh T3 đã đưa cho Nguyễn Đình G số tiền 5.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng thì G đưa cho L rồi cả nhóm điều khiển xe mô tô về quán Hỗ trợ tài chính. Tại đây, L để số tiền 5.000.000 đồng vào trong két của quán. L, G, D, T không nói cho anh H4 biết về sự việc xảy ra và về số tiền 5.000.000 đồng đã chiếmđoạt được của anh T3.

Ngay sau khi sự việc xảy ra, anh T3 đã có đơn trình báo. Trước cơ quan điều tra các bị can Ngô Ngọc L, Nguyễn Đình G, Nguyễn Viết T và Đoàn Hữu D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Gia Lộc đã triệu tập anh Tăng Văn H4 làm việc. Tại đây, anh H4 mới biết sự việc Ngô Ngọc L cùng đồng bọn dùng vũ lực đánh anh T3 để chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng, đồng thời về quán lấy số tiền 5.000.000 đồng trong két giao nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Gia Lộc.

Tại Cáo trạng số 06/QĐ- VKS- GL ngày 04/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố Ngô Ngọc L, Nguyễn Đình G, Nguyễn Viết T, Đoàn Hữu D về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự (viết tắt là BLHS).

Đại diện VKSND huyện Gia Lộc giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị H4 đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Ngô Ngọc L, Nguyễn Đình G, Nguyễn Viết T, Đoàn Hữu D phạm tội "Cướp tài sản".

Căn cứ khoản 1 Điều 168; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 BLHS và Điều 135; Điều 136; Điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự; Luật phí và L phí năm 2015; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án đối với cả 04 bị cáo. Riêng 02  bị cáo Ngô Ngọc L, Nguyễn Viết T áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Đề nghị Xử phạt bị cáo Ngô Ngọc L 42 - 45 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23/9/2018.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình G 39 - 42 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23/9/2018.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T 39 - 42 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/10/2018.

Xử phạt bị cáo Đoàn Hữu D 36 - 39 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/10/2018.

Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án 01 USB nhãn hiệu

Kingston vỏ bằng kim loại màu bạc dung lượng 01 GB, kích thước (05x01)cm, được niêm phong trong 01 phong bì dán kín.

Về án phí: Các bị cáo Ngô Ngọc L, Nguyễn Đình G, Nguyễn Viết T, Đoàn Hữu D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

Các bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA H4 ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, H4 đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lộc, Điều tra viên, VKSND huyện Gia Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Anh Tăng Văn H4 xác định không liên quan đến số tiền các bị cáo chiếm đoạt đem về để trong két cửa hàng anh. Anh đã mang số tiền 5.000.000 đó nộp cho cơ quan Điều tra để trả lại người bị hại vì anh T3 không phải là người vay anh tiền. Do vậy HĐXX xác định anh H4 tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng trong vụ án.

[2] Lời khai của các bị cáo Ngô Ngọc L, Nguyễn Đình G, Nguyễn Viết T, Đoàn Hữu D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ ngày 22/9/2018 tại Khu 1, thị trấn Gia Lộc, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, Ngô Ngọc L cùng với Nguyễn Đình G, Nguyễn Viết T và Đoàn Hữu D có hành vi dùng chân tay đánh, uy hiếp tinh thần đối với anh T3 và chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng của anh T3.

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Cướp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự. Xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố các bị cáo Ngô Ngọc L, Nguyễn Đình G, Nguyễn Viết T, Đoàn Hữu D về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo xâm phạm các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân được Nhà nước bảo vệ. Do đó cần phải xử nghiêm, cần cách ly các bị cáo một thời gian để các bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành công dân tốt.

[4] Về vai trò của các bị cáo, HĐXX xét thấy: Cả 04 bị cáo không có sự phân công, câu kết chặt chẽ với nhau trong việc thực hiện hành vi phạm tội nên đây chỉ là vụ án đồng phạm giản đơn.

Bị cáo Ngô Ngọc L là người đề xuất, rủ ba bị cáo G, T, D đi đòi tiền anh T3 (mặc dù anh T3 không vay tiền của các bị cáo cũng như của anh H4, người các bị cáo làm thuê) và là người trực tiếp dùng vũ lực như tát vào mặt anh T3, tay phải giữ gáy, tay trái túm cổ áo rồi dùng chân phải ghì từ phía sau, giật mạnh làm anh T3 ngã xuống đường, quát nạt yêu cầu anh T3 trả tiền đồng thời dùng tay trái tát vào mặt anh T3, đầu gối bên phải đánh trúng vào mạng sườn bên phải anh T3, rồi dùng tay phải kẹp cổ anh T3 từ phía sau, bóp quai hàm anh T3, mục đích làm anh T3 sợ hãi phải trả tiền nên L là người giữ vai trò thứ nhất trong vụ án.

Bị cáo Nguyễn Đình G trong quá trình đòi tiền anh T3 đã có hành vi sử dụng vũ lực như dùng chân trái đạp vào người anh T3, đồng tình với việc bị cáo L dùng vũ lực với anh T3 và đứng cạnh để hỗ trợ mục đích để làm anh T3 sợ hãi phải đưa tiền nên bị cáo G giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

Bị cáo Nguyễn Viết T là người dùng xe máy chở bị cáo G đến chỗ anh T3 bán xổ số, có hành vi lấy tập vé số trên bàn cầm đập vào tay, đi lại trước mặt anh T3, sau đó vất xuống bàn rồi cùng L, G áp sát, dồn anh T3 về phía nhà dân và đồng tình với việc bị cáo L dùng vũ lực với anh T3, đứng cạnh để hỗ trợ mục đích để làm anh T3 sợ hãi phải đưa tiền nên bị cáo T giữ vai trò thứ ba trong vụ án.

Bị cáo Đoàn Hữu D là người dùng xe máy chở bị cáo L đến chỗ anh T3 bán xổ số, đồng tình với việc bị cáo L dùng vũ lực với anh T3, và có hành vi đứng cạnh để hỗ trợ mục đích để làm anh T3 sợ hãi phải đưa tiền nên bị cáo D giữ vai trò thứ cuối trong vụ án.

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

*  Về  nhân  thân:  Bị  cáo  Ngô  Ngọc  L  có  nhân  thân  xấu:  Bản  án  số 591/2007/HSPT ngày 29/9/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Ngô Ngọc L 7 năm 3 tháng tù về tội Cướp tài sản. Ngày 30/8/2010 L chấp hành xong bản án. Đã được xóa án tích.

* Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Bản án số 168/HSST ngày 16/3/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Ngô Ngọc L 15 tháng tù về tội Đánh bạc. Ngày 10/9/2012, L chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 02/10/2018, L mới chấp hành xong án phí sơ thẩm hình sự 200.000 đồng và tiền phạt 3.000.000 đồng. Bị cáo chấp hành xong bản án trên sau khi đã phạm tội mới do cố ý do vậy bản án trên chưa được xóa. Tuy bản án số 168/HSST xác định L tái phạm (Tiền án là bản án số 591/2007). Tuy nhiên căn cứ khoản 2 Điều 73, đối chiếu với thời gian L chấp hành xong hình phạt chính của bản án 168 vào ngày 10/9/2012 nên bản án số 591/2007 đương nhiên được xóa nên lần phạm tội này bị cáo L chỉ phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52- Bộ luật hình sự.

- Bản án số 43/2017/HSST ngày 22/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc xử phạt Nguyễn Viết T 18 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 29/7/2018, T chấp hành xong bản án đến ngày 23/9/2018 bị cáo lại phạm tội mới do cố ý thì bản án trên chưa được xóa nên lần phạm tội này bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52- Bộ luật hình sự.

* Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 5.000.000 đồng, Cơ quan Cảnh sátđiều tra - Công an huyện Gia Lộc sau khi quản lý đã trả lại cho anh Phạm Quang T3. Anh T3 nhận tiền và không có yêu cầu đề nghị gì khác. HĐXX không xem xét, giải quyết.

Đối với 01 USB nhãn hiệu Kingston vỏ bằng kim loại màu bạc dung lượng 01 GB, kích thước (05x01)cm, được niêm phong trong 01 phong bì dán kín tiếp tục được lưu trong hồ sơ vụ án.

[8] Về án phí: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận số tiền 5.000.000 đồng, anh Phạm Quang T3 không có yêu cầu đề nghị gì khác, trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong. HĐXX không xem xét, giải quyết.

Đối với những chiếc xe mô tô mà Nguyễn Viết T và Đoàn Hữu D điều khiển chở Nguyễn Đình G và Ngô Ngọc L để đi đòi tiền anh T3, quá trình điều tra xác định: T và D mượn của người bạn tên T4 và T5 đều không rõ địa chỉ cụ thể ở đâu. Sau khi phạm tội đã trả lại cho T4 và T5 nên không có căn cứ để truy thu. HĐXX không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 168; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 BLHS và Điều 135; Điều 136; Điều 331, 333 BLTTHS; Luật phí và L phí năm 2015; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án đối với cả 04 bị cáo. Riêng 02  bị cáo Ngô Ngọc L, Nguyễn Viết T áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

1. Tuyên bố các bị cáo Ngô Ngọc L, Nguyễn Đình G, Nguyễn Viết T, Đoàn Hữu D phạm tội "Cướp tài sản".

Xử phạt bị cáo Ngô Ngọc L  42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23/9/2018.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình G 39 (ba mươi chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23/9/2018.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T 39 (ba mươi chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/10/2018.

Xử phạt bị cáo Đoàn Hữu D 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/10/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án 01 USB nhãn hiệu  Kingston vỏ bằng kim loại màu bạc dung lượng 01 GB, kích thước (05x01)cm,được niêm phong trong 01 phong bì dán kín.

3. Về án phí: Các bị cáo Ngô Ngọc L, Nguyễn Đình G, Nguyễn Viết T, Đoàn Hữu D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Ngô Ngọc L, Nguyễn Đình G, Nguyễn Viết T, Đoàn Hữu D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/01/2019). Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


74
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2019/HSST ngày 31/01/2019 về tội cướp tài sản

Số hiệu:05/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gia Lộc - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:31/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về