Bản án 41/2019/HS-PT ngày 26/03/2019 về tội hủy hoại rừng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 41/2019/HS-PT NGÀY 26/03/2019 VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG

Ngày 26 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 108/TLPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2018, đối với bị cáo Triệu Tiến H và 03 (ba) bị cáo khác, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 02/2018/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Khánh Hòa.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Triệu Tiến H, sinh năm: 1976, tại: huyện S, Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn E, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Sinh P và bà Hoàng Thị M; có vợ và 04 người con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Không;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.

2. Triệu Tiến C, sinh năm: 1967, tại: huyện L, Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn S, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Sinh D và bà Triệu Thị M; có vợ và 05 người con; Tiền án, tiền sự: Không. 

Nhân thân: Không;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.

3. Đặng Thắng L, sinh năm: 1986, tại: huyện L, Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Đức M và bà Triệu Thị N (danh bản ghi: Triệu Thị N1); có vợ và 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.

4. Dương Kim M, sinh năm: 1988, tại: Lạng Sơn; nơi cư trú: T, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Trung L và bà Triệu Thị N; có vợ và 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra còn có bị cáo Nguyễn Thành P không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

Người tha m gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:

Người bào chữa cho bị cáo Triệu Tiến H: Ông Vũ Như H– Luật sư của Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vũ Như H và cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 3 năm 2009, Dương Kim M, Đặng Thắng L và Triệu Tiến C cùng lên khu vực thác S bắt cá, thấy một vùng rừng khoảng 02 ha cả ba bàn nhau chặt phá để trồng lúa và bắp. Sau khi thống nhất, M, L và C dùng 03 cây rựa tiến hành chặt phá 02 ha đất rừng trồng bắp. Đến tháng 6 năm 2009 bị khỉ phá hết rẫy bắp, ba người tiến hành dọn lại và tiếp tục chặt phá thêm 02 ha, nhưng do T mưa, nước ngập úng nên M, L và C bỏ hoang diện tích đất nói trên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2013, Triệu Tiến H hỏi Triệu Tiến C mua lại diện tích rừng mà M, L và Cđã chặt phá vào năm 2009. M, L và Cbán cho Hình 08 ha (gồm 4 ha đã chặt phá năm 2009 và 4 ha chưa chặt phá) với giá 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Sau khi mua được rừng, H thuê Triệu Văn T chặt phá rừng để trồng keo. T thuê Triệu Văn S, Vi Văn T1, Triệu Văn L và Triệu Văn H1 cùng đi chặt phá rừng. Diện tích, vị trí rừng chặt phá được H dẫn tất cả mọi người đi cùng để chỉ địa điểm và đánh dấu bằng sơn vào các gốc cây to. Ngày 23 tháng 3 năm

2013, T, S, T1, L và H dùng 04 cây rựa và 01 cưa máy tiến hành chặt phá được 8,6 ha rừng (có 4 ha đã bị M, L và C chặt phá vào năm 2009) thì T, S, T1, L và H bỏ về không chặt phá nữa.

Ngày 18 tháng 4 năm 2013, trong quá trình tuần tra, kiểm tra, truy quét rừng khu vực SB giáp ranh xã Cư S, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Thành P, Trương Văn S, Bo Bo Đ và Nguyễn Văn T (nhân viên Trạm bảo vệ rừng K) đã phát hiện phần rừng do Công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp T quản lý bị chặt phá 02 khu vực với tổng diện tích là 25,3 ha. Đoàn kiểm tra tiến hành lập biên bản sự việc báo cáo cho Phòng kỹ thuật và quản lý bảo vệ rừng - Công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp T.

Toàn bộ diện tích rừng Dương Kim M, Đặng Thắng L, Triệu Tiến C, Triệu Văn T, Triệu Văn S, Vi Văn T, Triệu Văn L và Triệu Văn H chặt phá thuộc Khu vực 1 Tiểu khu 105 xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa – Lâm phần do Công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp T quản lý. Theo quyết định số 866/QĐ-UBND ngày 16 tháng 5 năm 2007 về việc phê duyệt kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng và Quyết định số 1149/QĐ-UBND ngày 10 tháng 5 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011- 2020 tỉnh Khánh Hòa, toàn bộ diện tích rừng bị hủy hoại thuộc quy hoạch rừng phòng hộ.

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp T là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, được Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa giao quản lý, bảo vệ rừng và diện tích rừng tại các xã K1, K2, K3, K4 và K5, huyện K, tỉnh Khánh Hòa, có 03 Trạm quản lý bảo vệ rừng trực thuộc Phòng kỹ thuật và quản lý bảo vệ rừng, cụ thể: Trạm quản lý bảo vệ rừng K1, Trạm quản lý bảo vệ rừng K3 và Trạm quản lý bảo vệ rừng K4. Các Trạm quản lý bảo vệ rừng có nhiệm vụ tổ chức thực hiện quản lý bảo vệ diện tích rừng và đất rừng được giao, nghiêm cấm khai thác lâm sản, khoáng sản trái pháp luật, phát rừng làm nương rẫy, săn bắt động vật rừng quý hiếm, chăn thả gia súc gây hại cây trồng; thường xuyên kiểm tra trên lâm phần được giao để kịp thời phát hiện, ngăn chặn dân di cư tự do cư trú bất hợp pháp trong rừng.

Ngày 18 tháng 7 năm 2006, Nguyễn Xuân T được Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp T bổ nhiệm làm Trưởng trạm quản lý bảo vệ rừng K1 theo Quyết định số 78-QĐ/TC/CT, nhiệm vụ bảo vệ rừng và đất rừng thuộc địa phận các xã K1 và K3, huyện K, tỉnh Khánh Hòa. Trong thời gian thực hiện nhiệm vụ từ ngày 20 tháng 7 năm 2006 đến ngày 30 tháng 8 năm 2010, do T không tiến hành tuần tra kiểm soát bảo vệ rừng, nên đến ngày 18 tháng 4 năm 2013 mới phát hiện sự việc rừng bị chặt phá.

Từ ngày 02 tháng 5 năm 2012 đến ngày 02 tháng 01 năm 2015, Nguyễn Thành P được giám đốc Công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp T điều động làm Trưởng trạm quản lý bảo vệ rừng Khánh B1 trực thuộc Phòng kỹ thuật và quản lý bảo vệ rừng – Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp T theo quyết định số 10/QĐ-TC-CT ngày 24 tháng 4 năm 2012. Phong được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ 10.099,85 ha rừng và đất rừng nằm trên địa giới hành chính của các xã K, K3 và một phần xã K3, huyện K, tỉnh Khánh Hòa, trong đó có Tiểu khu 105 thuộc địa phận xã K1, huyện K, tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên, do P không tổ chức thường xuyên tuần tra, kiểm soát nên để cho các bị cáo và người khác chặt phá 25,3 ha rừng. Đến ngày 18 tháng 4 năm 2013, P mới phát hiện được rừng bị chặt phá và báo cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp T.

Tại công văn số 2159/SNV-XDCQ&CTTN ngày 13 tháng 1 năm 2015 của Sở Nội vụ tỉnh Khánh Hòa và công văn số 374/SNV - XDCQ ngày 23 tháng 3 năm 2016 của Sở nội vụ tỉnh Đắk Lắk đều xác định: 8,6 ha rừng thuộc Khu vực 1 Tiểu khu 105 do các bị cáo L, M, C và H chặt phá thuộc xã K1, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.

Tại Kết luận định giá tài sản ngày 04 tháng 9 năm 2014, Kết luận định giá tài sản ngày 11 tháng 10 năm 2016 và công văn số 14/HDĐG ngày 30 tháng 7 năm 2017, Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện K, kết luận thiệt hại của 8,6 ha rừng bị L, M, C và H chặt phá như sau:

- Thiệt hại về Lâm sản: 614.487.600 đồng (sáu trăm mười bốn triệu bốn trăm tám mươi bảy nghìn sáu trăm đồng), trong đó phần thiệt hại do L, C và M gây ra năm 2009 là 238.703.000 đồng (hai trăm ba mươi tám triệu bảy trăm lẻ ba nghìn đồng).

- Thiệt hại về môi trường: 2.457.950.400 đồng (hai tỷ bốn trăm năm mươi bảy triệu chín trăm năm mươi nghìn bốn trăm đồng), trong đó phần thiệt hại do L, C và M gây ra năm 2009 là 954.812.000 đồng (chín trăm năm mươi bốn triệu tám trăm mười hai nghìn đồng).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2018/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

- Áp dụng Điểm c Khoản 3 Điều 243; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Triệu Tiến H, Triệu Tiến C, Dương Kim M và Đặng Thắng L,

- Xử phạt bị cáo Triệu Tiến H 05 (năm) năm tù; các bị cáo Triệu Tiến C, Dương Kim M và Đặng Thắng L mỗi bị cáo 04 (bốn) năm tù, về tội “Hủy hoại rừng”.

- Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt Nguyễn Thành P 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo, về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”; quyết định về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Đối với Nguyễn Xuân T có hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Khánh Hòa xét xử tại bản án số 06/2018/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2018.

Đối với 16,7 ha rừng còn lại trong số 25,3 ha rừng bị hủy hoại, do chưa xác định được người thực hiện, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau. 

Ngày 29 tháng 5 năm 2018, các bị cáo Triệu Tiến H, Triệu Tiến C, Dương Kim M và Đặng Thắng L đều kháng cáo bản án sơ thẩm, trong đó:

- Bị cáo Triệu Tiến H đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm mức hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.

- Các bị cáo Triệu Tiến C, Đặng Thắng L và Dương Kim M đều kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại hành vi của các bị cáo có cấu thành tội phạm hay không, nếu có thì giảm hình phạt hoặc cho các bị cáo được hưởng án treo.

Ngày 03 tháng 7 năm 2018, các bị cáo Triệu Tiến C, Đặng Thắng L và Dương Kim M thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho các bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa nêu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Các bị cáo Triệu Tiến C, Đặng Thắng L và Dương Kim M đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

- Bị cáo Triệu Tiến H đề nghị Hội đồng xét xử minh oan, nhưng sau đó thay đổi kháng cáo đề nghị giảm hình phạt.

- Người bào chữa cho bị cáo Triệu Tiến H, Luật sư Vũ Như H nêu quan diểm bào chữa: Bị cáo Triệu Tiến H là người dân tộc thiểu số, nhận thức hạn chế. Động cơ phát rừng của bị cáo chỉ là nhằm làm kinh tế cải thiện đời sống, không có mục đích nào khác. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo bồi thường được 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), tuy so với thiệt hại do bị cáo gây ra là không đáng kể, nhưng với điều kiện kinh tế của bản thân bị cáo đã làm hết khả năng của mình. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết mới giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Các bị cáo Triệu Tiến H, Triệu Tiến C, Đặng Thắng L và Dương Kim M kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, nên được cấp phúc thẩm xem xét.

[2]. Xét kháng cáo của các bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận những hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các chứng cứ do Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập được. Do đó, cấp sơ thẩm kết án các bị cáo về tội "Hủy hoại rừng" theo Điểm c Khoản 3 Điều 243 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội, không oan. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, xâm hại đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh T với mức độ rất nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly xã hội để giáo dục các bị cáo và ngăn ngừa những hành vi tương tự.

Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Khánh Hòa khi quyết định hình phạt đã cân nhắc đấy đủ về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm mỗi bị cáo đã nộp 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) để khắc phục thiệt hại, đây là tình tiết mới cần áp dụng cho các bị cáo. Tuy nhiên, do Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt là đã giảm nhẹ đáng kể cho các bị cáo. Vì vậy, việc Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới không làm giảm nhẹ thêm trách nhiệm hình sự của các bị cáo, nên giữ nguyên mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt mỗi bị cáo.

[2.2]. Về án phí: Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc trường hợp được miễn án phí theo Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên Tòa án cấp phúc thẩm miễn toàn bộ án phí phúc thẩm cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 343; Điểm a Khoản 1 và Khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Căn cứ Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Triệu Tiến H, Triệu Tiến C, Dương Kim M và Đặng Thắng L và giữ nguyên bản án sơ thẩm:

- Áp dụng Điểm c Khoản 3 Điều 243; các Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Triệu Tiến H, Triệu Tiến C, Dương Kim M và Đặng Thắng L,

- Xử phạt bị cáo Triệu Tiến H 05 (năm) năm tù, về tội “Hủy hoại rừng”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Triệu Tiến C 04 (bốn) năm tù, về tội “Hủy hoại rừng”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Dương Kim M 04 (bốn) năm tù, về tội “Hủy hoại rừng”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Đặng Thắng L 04 (bốn) năm tù, về tội “Hủy hoại rừng”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

2. Miễn toàn bộ án phí Hình sự phúc thẩm cho các bị cáo Triệu Tiến H, Triệu Tiến C, Dương Kim M và Đặng Thắng L.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 26 tháng 3 năm 2019).


120
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2019/HS-PT ngày 26/03/2019 về tội hủy hoại rừng

Số hiệu:41/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về