Bản án 41/2019/HNGĐ-ST ngày 02/08/2019 về ly hôn giữa chị L và anh T

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 41/2019/HNGĐ-ST NGÀY 02/08/2019 VỀ LY HÔN GIỮA CHỊ L VÀ ANH T

Ngày 02-8-2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2019/TLST - HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2019/QĐXXST – HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2019/QĐST-HNGĐ ngày 12-7-2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Quách Thị L, sinh năm 1989, (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn Đ, xã G, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

(chị Quách Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Phạm Quốc T, sinh năm 1989, (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 30-5-2019 nguyên đơn chị Quách Thị L trình bày: Chị với anh Phạm Quốc T kết hôn với nhau do đôi bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào ngày 11-9-2008. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được 04 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày nên thường xuyên xảy ra cãi nhau. Do không khắc phục được mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2009 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị với anh T không còn, chị đề nghị Tòa án nhân dân (viết tắt TAND) huyện Hưng Hà giải quyết cho chị được ly hôn anh T. Chị và anh T không có con chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Nguyên đơn là chị L đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn là anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng anh vắng mặt, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh T.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị L được ly hôn anh T; về con chung và tài sản chung không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà nhận định:

[2] Chị Quách Thị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Phạm Quốc T, anh T cư trú tại: Thôn Tịnh Thủy, xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

[3] Chị Quách Thị L có đơn đề nghi xét xử vắng mặt chị, vì vậy Tòa án mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị L theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập và đến địa chỉ nơi cư trú của anh T để làm việc với anh T về việc giải quyết vụ án nhưng không gặp anh T. Theo xác minh tại chính quyền địa phương và người thân của anh T (bà Phạm Thị Mai, sinh năm 1967, địa chỉ: Thôn Tịnh Thủy, xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình là mẹ đẻ anh T) được biết anh T là lao động tự do nên thường hay vắng mặt tại địa phương. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh T thông qua mẹ anh T là bà Phạm Thị Mai, bà Mai cũng cho Tòa án biết là anh T nhất trí ly hôn với chị L, anh T và chị L không có con chung, không có tài sản chung. Như vậy anh T đã biết việc chị L khởi kiện xin ly hôn anh, nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ án, tại phiên tòa anh T vắng mặt không có lý do, vì vậy TAND huyện Hưng Hà mở phiên tòa xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về hôn nhân: Chị Quách Thị L và anh Phạm Quốc T kết hôn với nhau do đôi bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào ngày 11-9-2008, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau từ năm 2009 đến nay. Xét thấy thời gian vợ chồng chị L, anh T chung sống với nhau chỉ khoảng 04 tháng, nhưng thời gian sống ly thân nhau đến nay đã hơn 10 năm, như vậy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần xử cho ly hôn giữa chị L và anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về nuôi con chung và chia tài sản: Chị L trình bày chị và anh T không có con chung và không có tài sản chung, nhưng do chưa có ý kiến của anh T nên không có căn cứ để Tòa án xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 147, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Quách Thị L và anh Phạm Quốc T.

2. Về nuôi con chung và chia tài sản: Không xem xét giải quyết.

3. Về án phí: Chị Quách Thị L phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005600 ngày 30-5-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, chị L đã nộp đủ tiền án phí.

4. Chị Quách Thị L và anh Phạm Quốc T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


70
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2019/HNGĐ-ST ngày 02/08/2019 về ly hôn giữa chị L và anh T

Số hiệu:41/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hưng Hà - Thái Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 02/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về