Bản án 41/2018/HSST ngày 16/08/2018 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 41/2018/HSST NGÀY 16/08/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Trong ngày 16/8/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2018; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2018/HSST- QĐ ngày 06 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Thạch T, sinh năm 1967; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch M (chết) và bà Trần Thị B (chết); có vợ Thạch Thị S, sinh năm 1965 và 02 người con lớn nhất sinh năm 1994 nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án: Có 01 tiền án, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú tuyên phạt 12.000.000đ theo Bản án số: 52/2017/HSST ngày 29/9/2017 về hành vi đánh bạc nhưng bị cáo chưa chấp hành và chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; Nhân thân: xấu do bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo vào năm 2010 và xử phạt 02 năm tù giam năm 2012 hiện nay đã được xóa án tích; bị bắt, tạm giam ngày 23/4/2018 (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Thạch T là bà Trần Thị H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Trà Vinh – Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 02 (có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị M, sinh năm 1952 (vắng mặt); Trú tại: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

1. Ông Trần T, sinh năm 1966 (vắng mặt);

Trú tại: ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

2. Ông Lữ Văn Ng, sinh năm 1977 (Vắng mặt);

Trú tại: ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

3. Anh Nguyễn Hoài H, sinh năm 1995 (có mặt);

Trú tại: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Tạm trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

4. Anh Lữ Văn S, sinh năm 1991 (vắng mặt);

Trú tại: ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

5. Anh Diệp Văn Đ, sinh năm 1987 (vắng mặt);

Trú tại: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 09/01/2018, bị cáo đi bộ từ nhà đến quán nước giải khát của anh Diệp Văn Đ để uống nước và đánh bi da. Khi đến nơi, bị cáo thấy trong quán có anh Đ; ông Trần T; ông Lữ Văn Ng và anh Nguyễn Hoài H, khoảng 10 phút sau thì có anh Lữ Văn S đến. Tại đây, anh S gặp và nói với bị cáo tìm gà trống có trọng lượng 2,6kg để đá cá cược thắng thua bằng tiền thì bị cáo đồng ý và nói lớn với những người ở trong quán, nội dung là “có ai có gà trống 2,6kg đá cá cược không”. Khi bị cáo nói xong thì ông Trần T trả lời “có” và ông T cùng anh S đi về nhà để bắt gà. Khoảng 30 phút sau, ông T và anh S đem đến quán của anh Đ mỗi người một con gà trống và một cặp cựa sắt.

Sau đó, anh Đ lấy một cái cân đồng h loại 05kg, băng keo dùng để quấn cựa gà và cùng với bị cáo, anh S, ông T, ông Ng, anh H và một số người khác không rõ họ tên, địa chỉ đi đến phần đất trước sân nhà của bà Trần Thị M để đánh bạc. Đến nơi, bị cáo đem gà của anh S và ông T lên cân, kết quả là cả hai con gà đều có trọng lượng là 2,6kg; khi cân gà xong, bị cáo và ông T quấn cựa vào chân gà, còn anh Đ thì vẽ vòng làm sân đá gà và làm trọng tài.

Trước khi thả gà đá, bị cáo theo gà của anh S và thỏa thuận với anh S mỗi người hùn 500.000đ, bị cáo nói cho anh Đ và những người còn lại biết số tiền cá cược đá gà là 1.000.000đ. Ông T đồng ý cá cược với với số tiền 1.000.000đ (trong đó ông T hùn 500.000đ; ông Ng hùn 300.000đ và một người tên H không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể hùn 200.000đ), theo gà của ông T. Ngoài ra, anh H theo gà của ông T cá cược với một người không rõ họ tên, địa chỉ với số tiền là 100.000đ nhưng không có thông qua anh Đ.

Kết quả sau khi đá thì gà của ông T thắng nên bị cáo đưa 500.000đ cho anh Đ chung cho ông T. Sau khi nhận tiền ông T đưa lại anh Đ 90.000đ tiền xâu (huê hồng), anh S đưa 500.000đ cho anh Đ để chung cho ông Ng 300.000đ và chung cho người tên H 200.000đ khi nhận tiền ông Ng đưa lại cho Đ 20.000đ là tiền xâu, còn Nguyễn Hoài H thì thắng được 100.000đ từ một người không biết họ tên, địa chỉ.

Khi lực lượng Công an xã Ngãi Xuyên đến kiểm tra, phát hiện lập biên bản sự việc và báo Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Trà Cú điều tra, xác minh làm rõ. Quá trình điều tra bị cáo Thạch T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Về vật chứng trong vụ án: Hai cặp cựa gà bằng kim loại thì T và S đã ném mất, còn băng keo và một cái cân đồng hồ loại 05kg thì Đ đã ném mất trong lúc bỏ chạy nên không thu giữ được; Hai con gà trống do bị chết nên trong ngày 09/01/2018 đã tiến hành tiêu hủy theo đúng quy định. Ngoài ra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Cú đã trả lại cho ông Trần T số tiền là 1.090.000đ.

Tại bản cáo trạng số: 42/CT-VKSTC ngày 25/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú đã truy tố bị cáo Thạch T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Thạch T đã thừa nhận toàn bộ hành vi “Đánh bạc” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú mô tả về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là đúng, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thạch T phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 38; Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Thạch T từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù.

Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Quan điểm của Trợ giúp viên bào chữa cho bị cáo Thạch T thống nhất nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và quan điểm luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo Thạch T. Tuy nhiên, Trợ giúp viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với các lý do bị cáo là người dân tộc Khmer sống ở xã đặc biệt khó khăn, việc nhận thức pháp luật còn hạn chế, trình độ học vấn thấp, sau khi phạm tội bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được giảm nhẹ một phần hình phạt theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt và về án phí:

Do bị cáo thuộc diện đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không trình bày lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Trà Cú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 10 giờ 50 phút ngày 09/01/2018, tại ấp C, xã N, huyện Tú, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Thạch T đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền, với số tiền bị cáo T dùng để đánh bạc là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).

[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, lẽ ra, bị cáo buộc phải biết hành vi đánh bạc là phạm tội và sẽ bị pháp luật hình sự trừng trị, nhưng chỉ vì ham muốn thu lợi bất chính lười lao động, vì mục đích vụ lợi bị cáo bất chấp pháp luật cố ý tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Trong vụ án này, mặc dù số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) nhưng bị cáo đã có 03 tiền án về tội Đánh bạc, trong đó tiền án gần đây nhất là vào ngày 29/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xử phạt 12.000.000 đồng chưa chấp hành xong bản án lại tiếp tục phạm tội đánh bạc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Qua đó đã thể hiện bị cáo có nhân thân xấu vì đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội vì vậy, việc xem xét quyết định hình phạt tù có thời hạn cho bị cáo Thạch T là có căn cứ.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú là phù hợp, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xét xử bị cáo bằng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới giúp bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.

Quan điểm bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Thạch T là có cơ sở nghĩ cần được chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Đối với tội phạm về đánh bạc, ngoài hình phạt chính còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và không thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với các ông Trần T, anh Lữ Văn S, ông Lữ Văn Ng và anh Nguyễn Hoài H có hành vi đánh bạc trái phép nhưng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, về nhân thân thì chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc đã vi phạm vào điểm a khoản 2 Điều 26 của Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ nên Công an huyện Trà Cú đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi đối tượng là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Ngoài số tiền xử phạt hành chính ông Trần T còn bị tịch thu số tiền 910.000 đồng, ông Lữ Văn Ng còn bị tịch thu số tiền 580.000 đồng và anh Nguyễn Hoài H còn bị tịch thu số tiền 200.000 đồng.

Riêng đối với anh Diệp Văn Đ có hành vi tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép cho các đối tượng nêu trên với hình thức đá gà thắng thua bằng tiền để thu lợi bất chính, nhưng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, về nhân thân anh Đ tốt, chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc đã vi phạm vào điểm d khoản 4 Điều 26 của Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ nên ngày 25/5/2018 Ủy ban nhân dân huyện Trà Cú ra Quyết định xử phạt với số tiền là 7.500.000 đồng. Ngoài số tiền xử phạt hành chính, anh Diệp Văn Đ còn bị tịch thu số tiền 110.000 đồng.

Mặt khác, qua xác minh vào ngày 09/01/2018 địa điểm tổ chức đánh bạc với hình thức đá gà thắng thua bằng tiền tại phần đất trước sân nhà của bà Trần Thị M, do bà M hoàn toàn không biết nên không có căn cứ xử lý. Riêng đối với người tên H có hành vi đánh bạc nhưng do không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên không mời được để làm rõ và xử lý, khi nào làm rõ được sẽ xem xét xử lý sau.

[5] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với: Hai cặp cựa gà bằng kim loại; băng keo và một cái cân đồng h loại 05kg do quá trình điều tra không thu giữ được nên không xem xét giải quyết.

Riêng đối với con gà lông màu đỏ đen và 01 con gà lông màu trắng bị chết nên trong ngày 09/01/2018 đã tiến hành tiêu hủy theo đúng quy định, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với số tiền 1.090.000 đồng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Cú đã trả lại cho ông Trần T xong, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Do bị cáo thuộc diện đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Thạch T phạm tội: “Đánh bạc”.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên xử: Xử phạt bị cáo Thạch T 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 23/4/2018.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đám bảo thi hành án.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án. Quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


59
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về