Bản án 41/2018/HNGĐ-ST ngày 29/06/2018 về ly hôn giữa bà H và ông H1

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 41/2018/HNGĐ-ST NGÀY 29/06/2018 VỀ VIỆC LY HÔN GIỮA BÀ H VÀ ÔNG H1

Ngày 29 tháng 6 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số 32/2018/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 3 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2018/QĐXXST - HNGĐ, ngày 30 tháng 5 năm 2018 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 35/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:  Bà Trương Thanh H, sinh năm 1969

Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Lý Văn  H1, sinh năm 1971

Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn – bà Trương Thanh H trình bày:

Bà H và ông H1 chung sống với nhau vào năm 1988, hôn nhân tự nguyện được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán nhưng đến nay chưa thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Vợ chồng chung sống đến năm 2010 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng thường bất đồng quan điểm sống, ông H1 thường xuyên uống rượu về nhà hành hung đánh đập vợ con đến mang thương tích, bên cạnh đó ông H1 còn có quan hệ ngoại tình với người khác. Mặc dù bà H đã nhiều lần khuyên nhủ chồng nhưng ông H1 vẫn không sửa đổi do đó vợ chồng đã ly 08 năm nay. Nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông H1.

Về con chung: Bà H xác định vợ chồng có 03 người con chung là Lý Thị Bích T sinh ngày 27/7/1989,  Lý Minh  T1 sinh ngày 17/01/1991 và Lý Thị Kiều O sinh ngày 19/4/1993 đều đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay bà H tiếp tục xin ly hôn với ông H1.

Bị đơn ông Lý Văn H1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án đồng thời không gửi văn bản nêu ý kiến trình bày.

Các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp trong hồ sơ vụ án gồm: Đơn xin xác nhận chưa đăng ký kết hôn có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T; bản sao giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân của các con chung.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn tham gia tố tụng đảm bảo đúng theo quy định, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 xét xử vắng mắt bị đơn; về hôn nhân căn cứ Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình không công nhận bà H và ông H1 là vợ chồng, về con chung  các con hiện đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết, tài sản chung và nợ chung của vợ chồng các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà H xin ly hôn với ông H1, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên do đó căn cứ vào Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành một số biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật tố tụng dân sự nên việc tham gia phiên tòa của Viện kiểm sát là đúng với quy định tại Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn – ông H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về  nội dung vụ án:

Quan hệ pháp luật: Bà H xin ly hôn với ông H1 nên quan hệ pháp luật của vụ án được xác định là “Ly hôn”

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà H và ông H1 chung sống với nhau từ năm 1988 nhưng đến nay không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình do đó hôn nhân của ông bà không có giá trị pháp lý và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Căn cứ vào Điều  9, 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, qua thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trương Thanh H và ông Lý Văn H1.

Về con chung: Ông bà có 03 người con chung của ông bà là Lý Thị Bích T sinh ngày 27/7/1989, Lý Minh T1 sinh ngày 17/01/1991 và Lý Thị Kiều O sinh ngày 19/4/1993 đều đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Bà H xác định không có, ông H1 không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà H có nghĩa vụ nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định của pháp luật nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001413 ngày 02/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Kiên Giang.

[4] Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 53 Luật hôn nhân gia và đình năm 2014;

- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trương Thanh H và ông Lý Văn H1.

2/ Về con chung: Các con chung của ông bà là Lý Thị Bích T sinh ngày 27/7/1989, Lý Minh T1 sinh ngày 17/01/1991 và Lý Thị  Kiều O sinh ngày 19/4/1993 đều đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không xem xét giải quyết.

3/ Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4/ Về án phí: Bà Trương Thanh H có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001413  ngày 02/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Bà Trương Thanh H đã nộp đủ án phí.

5/ Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn bà Trương Thanh H có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/6/2018). Ông Lý Văn H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

306
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2018/HNGĐ-ST ngày 29/06/2018 về ly hôn giữa bà H và ông H1

Số hiệu:41/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Biên - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 29/06/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về