Bản án 41/2018/HNGĐ-ST ngày 25/05/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 41/2018/HNGĐ-ST NGÀY 25/05/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 25/5/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 392/2017/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2018/QĐXX-ST ngày 02 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

*. Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Tr, sinh năm 1985

*. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1972

Cùng địa chỉ: ấp 1, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

(Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên toà.)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 05/10/2017; Bản tự khai, lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn anh Phạm Văn Tr trình bày:

Anh Trọng và chị Nguyễn Thị Cẩm H tự nguyện và chung sống với nhau từ năm 2008 đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Phú Ngọc, huyện Định Quán. Thời gian đầu vợ chồng sống chung rất hạnh phúc. Khoảng thời gian từ năm 2013 đến nay vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng lẫn nhau, vợ chồng không tin tưởng nhau về tiền bạc nên thường xuyên cãi xã, xúc phạm lẫn nhau, đã nhiều lần vợ chồng hạn gắn đoàn tụ nhưng được thời gian ngắn lại phát sinh mâu thuẫn nên vợ chồng sống ly thân từ 2014 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn anh yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Gia Huy, sinh ngày 15/01/2009 và cháu Phạm Gia Hân, sinh ngày 24/6/2012, anh nhường quyền nuôi cả 02 cháu cho chị H nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi 2 con 3.000.000đồng/tháng.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có nợ chung.

* Tại biên bản lấy lời khai, biên bản đối chất ngày 23/2/2018, biên bản hòa giải và lời khai tại phiên Tòa bị đơn chị Nguyễn Thị Cẩm H trình bày:

Chị H thừa nhận thời gian chung sống, con chung đúng như anh Tr đã trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc, Sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh Tr hay chữi bới, xúc phạm, đánh đập chị, vợ chồng không tôn trọng nhau, chị đã làm đơn lên xã để giải quyết nhưng không có kết quả nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2017 đến nay, anh Tr yêu cầu ly hôn chị không đồng ý ký ly hôn vì chị theo đạo công giáo.

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Gia Hân, sinh ngày 24/6/2012 và cháu Phạm Gia Huy, sinh ngày 15/01/2009, chị yêu cầu nuôi cả 02 cháu và yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi các con 3.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: gồm có 700.000.000đồng tiền mặt và một số tài sản đất đai chị đã có bản kê khai tài sản nộp cho Tòa án. Chị không yêu cầu giải quyết trong vụ án này mà sẽ khởi kiện chia tài sản bằng một vụ án khác.

Về nợ chung: Vợ chồng có nợ anh Trần Văn Lực, địa chỉ: ấp 1, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, số tiền 2.290.000.000đ. Số tiền này là mua cám để nuôi cá, anh Lực không yêu cầu giải quyết nên chị cũng không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung là đúng quy định.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp và do tòa án thu thập thì mâu thuẫn giữa anh Trọng và chị H là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

(1) Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục, tống đạt hợp lệ cho các bên đương sự, các đương sự không thắc mắc khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán giải quyết vụ án nên các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng đều hợp pháp.

(2) Về nội dung:

Tại phiên tòa, người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung, yêu cầu gì thêm.

Xét yêu cầu ly hôn của anh Phạm Văn Tr thấy rằng, thực tế cuộc sống chung giữa anh Tr và chị H có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, không tôn lẫn nhau và vợ chồng sống ly thân từ nhiều năm nay không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên anh khởi kiện yêu cầu ly hôn. Bị đơn chị thừa nhận mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn hành phúc, do vợ chồng không tôn trọng lẫn nhau, anh Trọng yêu cầu ly hôn chị không đồng ý vì chị theo đạo công giáo. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tung dân sự đây là những tình tiết được xem là có thật và xác định tình trạng hôn nhân của anh Trọng và chị H đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và yêu cầu ly hôn của anh Tr là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

(3).Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Gia Huy, sinh ngày 15/01/2009 và cháu Phạm Gia Hân, sinh ngày 24/6/2012. Xét việc nuôi con của anh Trọng và chị H đã được hai bên thỏa thuận giao hai cháu cho chị trực tiếp nuôi dưỡng và anh Tr cấp dưỡng nuôi hai con 3.000.000 đồng/tháng. Việc thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng không trái pháp luật đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

(4).Về tài sản chung: không xem xét giải quyết.

(5).Về nợ chung: không xem xét giải quyết.

(6).Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; các Điều 35, 235, 266 - Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 - Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Văn Tr, anh Tr được ly hôn với chị Nguyễn Thị Cẩm H.

2. Về con chung: Giao 02 cháu Phạm Gia Huy, sinh ngày 15/01/2009 và cháu Phạm Gia Hân, sinh ngày 24/6/2012 cho chị Nguyễn Thị Cẩm H trực tiếp nuôi dưỡng, anh Tr cấp dưỡng nuôi hai con 3.000.000 đồng/tháng.

Anh Tr được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh chị có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

(4).Về tài sản chung: không xem xét giải quyết. (5).Về nợ chung: không xem xét giải quyết (6). Về án phí: anh Tr phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí anh Tr đã nộp sang án phí theo biên lai thu tiền số 004453 ngày 26/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, anh Tr phải tiếp tục nộp số tiền 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


91
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2018/HNGĐ-ST ngày 25/05/2018 về ly hôn

Số hiệu:41/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Định Quán - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 25/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về