Bản án 41/2017/HNGĐ-ST ngày 18/07/2017 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 41/2017/HNGĐ-ST NGÀY 18/07/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 18/7/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 172/2017/TLST- HNGĐ ngày 31/5/2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 61/2017/QĐXX-ST ngày 28/6/2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Công T1, sinh năm 1981(Có mặt) HKTT: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1985(Vắng mặt) HKTT: Số nhà 13, ngõ 889, đường L, tổ dân phố S, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/5/2017 và những lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn anh Nguyễn Công T1 trình bày:

Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Thanh T2 vào ngày 03/4/2009. Trước khi kết hôn hai người được tự do tìm hiểu, xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau ngay tại gia đình chị T2 được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân là do mỗi người một nghề anh làm thợ hàn xì tại xã V huyện V, chị T2 làm công tác kế toán tại thành phố B, vợ chồng ít có thời gian bên nhau nên tình cảm ngày càng xa xách, mỗi lần gặp nhau vợ chồng lại bất đồng quan điểm về nơi ở, làm việc cũng như kế hoạch sinh con, anh và chị T2 sống ly thân nhau từ năm2011. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh và chị T2 không còn thương yêu nhau, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T2. Con chung của vợ chồng không có, không đề nghị Tòa án giải quyết. Tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng  không có, không đề nghị Tòa án giải quyết. Tại biên bản ghi lời khai ngày 16/6/2017 và những lời khai tiếp theo bị đơn là chị Nguyễn Thị Thanh T2 trình bày:

Về điều kiện và thời gian kết hôn của vợ chồng chị như anh T1 khai tại Toà án là đúng.

Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2011thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nên xảy ra cãi mắng nhau, chị có khuyên bảo anh T1 nhưng không đem lại kết quả, hiện vợ chồng đã sống ly thân nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T1 không còn thương yêu nhau, chị đồng ý với yêu cầu ly hôn của anh T1.

Con chung của vợ chồng không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Vềtài sản chung, công nợ chung của vợ chồng  không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị T2 vắng mặt, nên các bên không thỏa thuận được được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa anh T1 giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với chị T2, ngoài ra không có yêu cầu Tòa án giải quyết gì khác.

Bị đơn là chị Nguyễn Thị Thanh T2 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và việc chấp hành pháp luật của các đương sự tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị HĐXX:

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147,  khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

- Xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Công T1 và chị Nguyễn Thị Thanh T2.

- Con chung không có, không đặt ra giải quyết.

Tài sản chung, công nợ chung, không đặt ra giải quyết.

- Về án phí anh Nguyễn Công T1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là chị Nguyễn Thị Thanh T2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng đều từ chối đến Tòa án làm việc và chị T2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị T2.

[2] Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Công T1 và chị Nguyễn Thị Thanh T2 kết hôn với nhau ngày 03/4/2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Hôn nhân tự nguyện, không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn, là hôn nhân hợp pháp.

[3] Mâu thuẫn của vợ chồng giữa anh T1 và chị T2, do không hợp tính cách của nhau, bất đồng về quan trong cuộc sống nên xẩy ra cãi mắng nhau, vợ chồng sống ly thân từ năm 2011. Anh T1, chị T2 đều xác định tình cảm vợ chồng không còn thương yêu nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, anh T1 và chị T2 đề nghị được ly hôn nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của anh T1.

[4] Về con chung không có, không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung và công nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Anh T1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Công T1 và chị Nguyễn Thị Thanh T2.

2. Về con chung không có, không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Nguyễn Công T1 phải chịu 300.000đồng ( Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng anh T1 đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2014/0001286 ngày 31/5/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả tống đạt bản án của Toà án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


81
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2017/HNGĐ-ST ngày 18/07/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:41/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Giang - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:18/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về