Bản án 39/2019/HNGĐ-ST ngày 13/05/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 39/2019/HNGĐ-ST NGÀY 13/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 14 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2019/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thu S (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Anh Lâm Hoàng B (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 23-11-2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thu S trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh B được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện U Minh ngày 03-3-2016. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2018 thì vợ chồng thường xuyên cải vã do bất đồng quan điểm, chung sống không hạnh phúc nên chị S và anh B đã ly thân từ tháng 11-2018 cho đến nay, gia đình hai bên không có hàn gắn để anh, chị đoàn tụ. Chị S xét thấy không thể tiếp tục chung sống với anh B được nữa nên chị yêu cầu ly hôn với anh B.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp cho anh B nhưng anh không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc chị S yêu cầu ly hôn với anh B thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.

Anh B được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự này.

Về nội dung vụ án:

[1] Về hôn nhân: Chị S và anh B tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống không hạnh phúc nên anh, chị đã ly thân từ đầu tháng 11-2018 cho đến nay, chị S xét thấy không thể tiếp tục chung sống với anh B được nữa nên chị yêu cầu ly hôn với anh B. Điều đó, cho thấy hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị S được ly hôn với anh B.

[2] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị S phải chịu số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do chị S đã nộp tạm ứng án phí nên được đối trừ không phải nộp tiếp.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Lâm Hoàng B.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

[1] Về hôn nhân: Chị Phạm Thu S và anh Lâm Hoàng B được ly hôn.

[2] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị S phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Ngày 28-01-2019 chị S đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005918 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được đối trừ chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận hoặc được tống đạt hợp lệ.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2019/HNGĐ-ST ngày 13/05/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:39/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 13/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về