Bản án 39/2018/HNGĐ-ST ngày 19/09/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 39/2018/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 19 tháng 09 năm 2018 tại trụ sở TAND huyện Thiệu Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2018/HNGĐ ngày 04/06/2018 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2018/QĐXX- ST ngày 06/08 /2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2018/QĐST-HNGĐ ngày28/08/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ninh Thị H - Sinh năm 1989.

Địa chỉ: Thôn 6, xã Thọ Lộc, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa

- Bị đơn: Anh Lê Công Th - Sinh năm 1987

Địa chỉ: Thôn Toán Hàng, xã Thiệu toán, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Tại phiên tòa vắng mặt chị H, anh Th.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 24/05/2018 và được bổ sung bằng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án chị Ninh Thị H trình bày: Chị và anh Lê Công Th kết hôn với nhau vào ngày 06/05/2013 tại UBND xã Thiệu Toán, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn. Quá trình vợ chồng chung sống đoàn tụ hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, anh Th chơi bời lô đề, cờ bạc, cầm cố tài sản dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải cọ, xúc phạm lẫn nhau, cuộc sống không hạnh phúc và ly thân từ đầu năm 2017 cho đến nay không ai quan tâm đến ai nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Công Th.

-Về con chung: Chị và anh Th có 01 con chung là cháu Lê Công D sinh ngày31/10/2013. Ly hôn nguyện vọng của chị H xin tòa giải quyết cho chị được nuôi con và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

-Về tài sản và phần nợ: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Ý kiến của anh Lê Công Th: Quá trình tòa án giải quyết vụ án đã tống đạt các thủ tục hợp lệ cho anh Lê Công Th, anh Th đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án,

Giấy triệu tập lên tòa án khai nại quan điểm của mình về việc chị H có đơn ly hôn, Thông báo phiên họp việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưnganh Th không có mặt, không khai nại quan điểm của mình về hôn nhân, con chung và tài sản công nợ nên tòa án không xem xét được.

Tại phiên tòa anh Th được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, chị Hồng đã được triệu tập hợp lệ nhưng chị có đơn xin xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa. HĐXX nhận định.

[1]Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa anh Th đã được triệu tập hợplệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do chính đáng, chị H được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 tòa án vẫn xét xử theo thủ tục chung.

[2]Về hôn nhân: Chị Ninh Thị H và anh Lê Công Th kết hôn với nhau vào ngày 06/05/2013 tại UBND xã Thiệu Toán, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống đoàn tụ hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyênnhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2017 cho đến nay không ai quan tâm đến ai nữa. Trong quá trình giải quyết vị án, tòa án đã thông báo cho anh Th lên tòa tự khai trình bày quan điểm về việc chị H xin ly hôn anh nhưng anh Th không lên khai nại, không tham gia các phiên hòa giải chứng tỏ anh không quan tâm đến ý kiến của vợ, không có tráchnhiệm và thiết tha với cuộc sống hôn nhân vợ chồng bỏ mặc cho hậu quả sảy ra.HĐXX xét thấy mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chungkhông thể kéo dài, xét đơn ly hôn của chị H là phù hợp nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận cho chị Ninh Thị H được ly hôn với anh Lê Công Th.

[3]Về con chung: Chị H và anh Th có 01 con chung là cháu Lê Công D sinh ngày 31/10/2013. Ly hôn nguyện vọng của chị H xin tòa giải quyết cho chị được nuôi con và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng tiền nuôi con chung. HĐXX xét thấy anh Th đã nhận được thông báo thụ lý của tòa án nhưng không có quan điểm về con chung nên tòa án không xem xét nguyện vọng của anh Th. Xét yêu cầu xin nuôi con của chịH phù hợp pháp luật, xét mọi mặt có lợi cho cháu Danh, HĐXX giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu D là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Th cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

[4]Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án tòa án đã Thông báo thụ lý cho anh Th nhưng Th không có ý kiến gì về phần tài sản, công nợ chung nên tòa án không xét.

[5]Về án phí: Chị H chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51,56,81,82,83 Luật HNGĐ, Điều 227,228, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

1.Về hôn nhân: Chấp nhận đơn ly hôn của chị Ninh Thị H. Cho chị Ninh Thị Hđược ly hôn với anh Lê Công Th.

2.Về con chung: Giao cháu Lê Công D sinh ngày 31/10/2013 cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Th phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con cùng chị.

Anh Thanh có quyền đi lại thăm non, chăm sóc con chung không ai được cảntrở.

Vì quyền lợi của con chưa thành niên, chị H, anh Th có quyền yêu cầu thay đổingười trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi đủ điều kiện.

3.Về án phí: Áp dụng Khoản 4 Điều 147 BLTTDS, Điều 6, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụQuốc hội.

+Chị H chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số AA/2014/001412 ngày11/06/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thiệu Hóa, chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành ân dân sự có quyền thỏathuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị H, anh Th có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.


75
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2018/HNGĐ-ST ngày 19/09/2018 về ly hôn

Số hiệu:39/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thiệu Hoá - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về