Bản án 39/2018/DS-ST ngày 26/09/2018 về tranh hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH T, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 39/2018/DS-ST NGÀY 26/09/2018 VỀ TRANH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 96/2018/TLST-DS, ngày 17 tháng 7 năm 2018 về: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2018/QĐXX-ST ngày 11 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1956 (có mặt)

Địa chỉ: Số 128, ấp Phú T, thị trấn P, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng

2. Bị đơn: Ông Phan Hoài H, sinh năm 1988 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Trung T, xã Tuân T, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

3. Người làm chứng: Lâm Ngọc H, sinh năm 1974 (có mặt) Địa chỉ: Ấp Phú T, thị trấn P, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn vụ án có nội dung như sau:

Vào ngày 02/11/2017 Al nguyên đơn có cho bị đơn Phan Hoài H vay 5.000.000 đồng, đến ngày 07/12/2017 Al cho H vay tiếp 5.000.000 đồng thỏa thuận lãi suất là 6%/tháng, khi vay không có thỏa thuận thời gian trả vốn vay cụ thể nhưng bị đơn H có hứa là sau khi cưới vợ 2-3 ngày sẽ trả đủ vốn. Còn về lãi suất đơn H đã trả 02 lần, lần đầu trả 300.000 đồng vào ngày 10/12/2017 Al, lần thứ hai trả 600.000 đồng vào ngày 07/01/2018 Al.

Do bị đơn không trả vốn vay và lãi suất theo thỏa thuận, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn H trả vốn vay còn nợ là 10.000.000 đồng không yêu cầu trả tiền lãi.

Bị đơn Phan Hoài H trình bày: Bị đơn thừa nhận có vay tiền của nguyên đơn Ánh 02 lần, lần đầu vào tháng 6/2017 vay 5.000.000 đồng với lãi suất là 6%/tháng, lần thứ hai vào khoảng tháng 9,10/ 2017 vay thêm 5.000.000 đồng với lãi suất là 8%/tháng. Đến ngày 19/01/2018 Al đã trả đủ vốn 10.000.000 đồng cho nguyên đơn Á, còn tiền lãi đã trả hơn 5.000.000 đồng. Khi trả vốn và lãi không có làm giấy tờ hay biên nhận gì và cũng không có ai chứng kiến. Không đồng ý trả vốn vay theo yêu cầu của nguyên đơn Ánh.

Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đã tống đạt hợp lệ cho các bị đơn 02 lần nhưng bị đơn Phan Hoài H đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án lập biên bản không hòa giải được và quyết định đưa vụ án ra xét xử theo qui định của pháp luật.

Quan điểm của Viện kiểm sát như sau: Từ khi thụ lý đến khi kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đúng với các quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Hội đồng xét xử nhận thấy theo đơn khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn Phan Hoài H trả tiền vay còn nợ nên tranh chấp giữa các đương sự là: “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo qui định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự, bị đơn có địa chỉ tại ấp Trung T, xã Tuân T, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng thụ lý và giải quyết là đúng theo qui định tại Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố Tụng Dân sự.

[2] Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn trả vốn vay 10.000.000 đồng không yêu cầu tính lãi. Tại phiên tòa bị đơn Phan Hoài H thừa nhận có vay của nguyên đơn Á 02 lần tổng cộng là 10.000.000 đồng. Nên căn cứ vào Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Dân sự đây là tình tiết không phải chứng minh. Nhưng bị đơn cho rằng đã trả đủ vốn cho nguyên đơn vào ngày 19/01/2018 Al, còn tiền lãi đã trả hơn 5.000.000 đồng nhưng nguyên đơn Á không thừa nhận,việc trả vốn vay và trả tiền lãi không có giấy tờ, không có ai chứng kiến, bị đơn không chứng minh được nên lời trình bày này của bị đơn Hận là không có cơ sở để chấp nhận. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Á là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận, bị đơn phải có nghĩa vụ trả vốn vay cho nguyên đơn theo qui định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự.

[3] Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Á buộc bị đơn Phan Hoài H trả vốn vay 10.000.000 đồng cho nguyên đơn và tính lãi trong giai đoạn thi hành án.

[4] Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Phan Hoài H trả vốn vay 10.000.000 đồng cho nguyên đơn Nguyễn Thị Á. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo qui định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên các bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (10.000.000 đồng x 5%) là: 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Điều 463; 466; 468 Bộ luật Dân sự, Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Á

1. Buộc bị đơn Phan Hoài H trả vốn vay là: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) cho nguyên đơn Nguyễn Thị Á. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo qui định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Phan Hoài H phải nộp là: 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), hoàn trả cho nguyên đơn Nguyễn Thị Á 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003252 ngày 16/7/2018 của Chi cục Thi hành dân sự huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


91
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2018/DS-ST ngày 26/09/2018 về tranh hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:39/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thạnh Trị - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về