Bản án 39/2018/DS-ST ngày 15/08/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH T

BẢN ÁN 39/2018/DS-ST NGÀY 15/08/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 15 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2018/TLST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2018/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2018/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1966 (có mặt). Địa chỉ: Số 206, ấp Long Thành, xã Long Thành Trung, huyện H, tỉnh T.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960 (vắng mặt). Bà Mang Thị Huôi, sinh năm 1957 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số nhà 123/11A, tổ 22B, ấp Long Thành, xã Long Thành Trung, huyện H, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 01 năm 2018 của nguyên đơn bà Phạm Thị  D, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà D trình bày: Bà D là hụi viên còn ông Nguyễn Văn T và bà Mang Thị Hlà chủ thảo hụi. Bà D có tham gia 03 dây hụi do ông T bà Hlàm chủ thảo cụ thể như sau:

Dây hụi thứ nhất hụi 1.000.000 đồng khui 09/4/2011 (AL), gồm 28 phần, mỗi tháng khui 01 lần vào ngày 09 (AL) hàng tháng, bà tham gia 01 phần, đã đóng hụi cho ông T bà Hđến lần thứ 22 được số tiền gốc 15.650.000 đồng. Dây hụi thứ hai hụi 500.000 đồng khui ngày 02/12/2009 (AL), gồm 31 phần, mỗi tháng khui 02 lần vào ngày 02 và ngày 17 (AL) hàng tháng, bà tham gia 01 phần và đã đóng được 28 lần được số tiền hụi gốc là 9.800.000 đồng. Dây hụi thứ ba hụi 500.000 đồng khui ngày 18/7/2011 (AL), gồm 30 phần, mỗi tháng khui 01 lần vào ngày 18 (AL) hàng tháng, bà tham gia 01 phần và đã đóng được 08 lần được số tiền hụi gốc là 2.800.000 đồng. Tổng cộng số tiền hụi gốc mà bà D đã đóng cho ông T và bà Hlà 28.250.000 đồng (Hai mươi tám triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng), khi tham gia hụi ông T bà H có giao danh sách hụi viên cho bà D. Đến đầu năm 2013 thì ông T bà Htuyên bố vỡ hụi và bỏ trốn.

Nay ra Tòa bà D yêu cầu ông T và bà Hcó nghĩa vụ trả lại cho bà số tiền gốc là 28.250.000 đồng (Hai mươi tám triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng), không yêu cầu tính tiền lãi.

* Ông Nguyễn Văn T và bà Mang Thị Hlà bị đơn trong vụ án, Tòa án đã thông báo và thực hiện việc tống đạt hợp lệ cho ông T, bà Hphải đến Tòa án tham gia giải quyết vụ kiện này nhưng ông T, bà Hvẫn vắng mặt không có lý do.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H:

Về thủ tục tố tụng trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ và trình tự tiến hành phiên tòa đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án đã thông báo và thực hiện việc tống đạt hợp lệ đối với ông T, bà Hnhưng ông T, bà Hvẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà Htheo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Bà D có tham gia 03 dây hụi do ông T bà Hlàm thảo hụi và bà D đã đóng được số tiền hụi gốc tổng cộng là 28.250.000 đồng, sau đó ông T bà Htuyên bố bị vỡ hụi và bỏ trốn nên hai bên không tiếp tục việc giao dịch góp hụi nữa, nay bà D khởi kiện yêu cầu ông T bà Htrả số tiền hụi gốc là 28.250.000 đồng (Hai mươi tám triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ông Nguyễn Văn T và bà Mang Thị Hcó nơi cư trú tại số 123/11A, tổ 22B, ấp Long Thành, xã Long Thành Trung, huyện H, tỉnh T nên Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh T thụ lý vụ án là đúng theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ông T và bà Hlà bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia giải quyết vụ án và tham dự phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà Huôi.

[2] Về nội Dung vụ án:

Bà D có tham gia các dây hụi do ông T bà H làm thảo hụi cụ thể: Dây hụi 1.000.000 đồng mở ngày 09/4/2011 (AL), gồm 28 phần, mỗi tháng khui 01 lần, bà D tham gia 01 phần, đã đóng được 22 lần số tiền gốc 15.650.000 đồng. Dây hụi 500.000 đồng mở ngày 02/12/2009 (AL), gồm 31 phần, mỗi tháng khui 02 lần, bà D tham gia 01 phần và đã đóng được 28 lần số tiền gốc là 9.800.000 đồng. Dây hụi 500.000 đồng mở ngày 18/7/2011 (AL), gồm 30 phần, mỗi tháng khui 01 lần, bà D tham gia 01 phần và đã đóng được 08 lần số tiền hụi gốc là 2.800.000 đồng. Tổng cộng số tiền hụi gốc mà bà D đã đóng cho ông T và bà Hlà 28.250.000 đồng (Hai mươi tám triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng). Đến đầu năm 2013 thì ông T bà Htuyên bố vỡ hụi và bỏ trốn không trả lại tiền góp hụi cho bà D là vi phạm nghĩa vụ T toán nên bà D khởi kiện. Do đó xác định đây là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” được quy định tại Điều 479 của Bộ luật dân sự năm 2005.

[3] Xét nghĩa vụ trả nợ thấy rằng: Trong quá trình điều tra giải quyết vụ án, qua danh sách hụi viên do ông T bà Hcung cấp cho bà D và qua xác minh những người hụi viên cùng tham gia dây hụi với bà D cũng đều xác định ông T, bà Hlà thảo hụi và bà D là hụi viên, bà D có tham gia các dây hụi trên là có thật. Nay ra Tòa bà D chỉ yêu cầu ông T bà Htrả lại số tiền hụi gốc đã đóng là 28.250.000 đồng, không yêu cầu tính lãi là có cơ sở chấp nhận. Do đó, cần buộc ông T, bà Hcó nghĩa vụ trả lại cho bà D số tiền nợ hụi gốc 28.250.000 đồng, ghi nhận bà D không yêu cầu ông T và bà Htrả lãi.

[4] Theo ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.

[5] Ông T, bà Hphải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 479 của Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị D đối với ông Nguyễn Văn T và  bà Mang Thị Huôi.

Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Mang Thị Hcó nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị D số tiền hụi gốc là 28.250.000 đồng (Hai mươi tám triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng), ghi nhận bà D không yêu cầu ông T bà Htrả tiền lãi.

từ ngày bà D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông T và bà Hkhông chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng ông T và bà Hcòn phải trả cho bà D số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn T và bà Mang Thị Hphải chịu 1.412.000 đồng (Một triệu bốn trăm mười hai ngàn đồng). Chi cục Thi hành án dân sự huyện H hoàn trả cho bà Phạm Thị D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 00019317 ngày 16 tháng 01 năm 2018.

Án dân sự sơ thẩm xử công khai báo cho bà D biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông T, bà Hvắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


102
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2018/DS-ST ngày 15/08/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:39/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hòa Thành - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về