Bản án 39/2017/HSST ngày 18/07/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 39/2017/HSST NGÀY 18/07/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 18 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 34/2017/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyn Thế H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14/9/1969; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số D, ngõ E, phố P, phường B, quận L, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hoá: 10/10; Nghề nghiệp: không; Con ông Nguyễn Thế C, đã chết; Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1944; Vợ: Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1972; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị giam giữ tại Công an huyện Chi Lăng từ ngày 07/3/2017 đến ngày 30/3/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Kiềng Văn Đ, sinh năm 1956, trú tại thôn B, xã V, huyện C, tỉnh L - (Đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Thi Thị C, sinh năm 1956 (là  vợ của bị hại). Trú tại: Thôn B, xã V, huyện C, tỉnh L (theo giấy ủy quyền). Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số A, phố Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

+ Ông Trần Cao Thái H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số B, ngõ C đường H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Thế H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 06/3/2017, tại Km 32+700, quốc lộ 1A, thuộc địa phận thôn B, xã V, huyện C, tỉnh L, xảy ra vụ tai nạn giữa xe ô tô biển kiểm soát: 29A-255.29 do Nguyễn Thế H điều khiển xe lưu thông theo hướng L – Hà Nội với bộ hành là ông Kiềng Văn Đ đang đi bộ qua đường.

Hậu quả: ông Kiềng Văn Đ chết tại chỗ, xe ô tô hỏng nhẹ. Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thế H khai nhận: H có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 10 giờ ngày 06/3/2017, H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 29A-255.29  (chủ xe là Nguyễn Thị Ngọc T) đi từ Hà Nội đến thành phố L để  viếng đám ma gia đình người quen. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H điều khiển xe ô tô từ thành phố L về Hà Nội theo quốc lộ 1A. Khi đến Km 32+700, quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn B, xã V, huyện C, tỉnh L, H đang điều khiển xe chạy trên đường dành cho xe cơ giới theo hướng đi của mình với vận tốc khoảng 75 – 80 km/h thì phát hiện phía trước cách khoảng 50 – 60 mét có một người đi bộ qua đường là ông Kiềng Văn Đ đang sang đường từ phía bên trái theo hướng L – Hà Nội đã sang đến giữa phần đường bên phải. Do không kịp xử lý đạp phanh cho xe dừng lại mà H chỉ đánh lái sang phải cho xe tránh nên đầu xe bên trái va chạm vào ông Đ, sau đó góc kính chắn gió và gương chiếu hậu bên trái của xe ô tô tiếp tục va chạm vào ông Đ làm kính vỡ, ốp gương chiếu hậu rơi. Thấy vậy H dừng xe xuống kiểm tra, phát hiện ông Đ đã chết. Do đi một mình, đêm tối và hoảng sợ, H đã điều khiển xe ô tô rời khỏi hiện trường đi về thành phố Hà Nộ i. Trên đường đi H đã gọi điện thoại thông báo cho ông Hoàng Văn Đ1, sinh năm 1973, là cán bộ Công an thành phố L biết nhưng không liên lạc được do ông Đ1 không nghe máy. Đến sáng ngày 07/3/2017 khoảng 07 giờ H lại gọi cho ông Đ1 và báo cho ông Đ1 biết là tối ngày 06/3/2017 trên đường từ L về xảy ra tai nạn chết người tại địa phận huyện C, ông Đ1 đã trực tiếp gọi điện thông báo cho Công an huyện Chi Lăng biết, đồng thời H đã chủ động đến Công an huyện Chi Lăng để đầu thú và giao nộp phương tiện gây tai nạn là xe ô tô biển kiểm soát: 29A- 255.29.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 48/2017/TT ngày 13/3/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn kết luận, nguyên nhân chết của Kiềng Văn Đ là do tình trạng suy tuần hoàn, suy hô hấp cấp do chấn thương ngực, dập rách phổi chảy máu cấp do tương tác với vật tày có lực quán tính lớn.

Tại bản giám định kỹ thuật số: 24/GĐKT-ĐK ngày 28/3/2017 của Công ty đăng kiểm xe cơ giới Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn kết luận, trước khi xảy ra tai nạn xe ô tô 29A-255.29 các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chi Lăng ngày 14/4/2017 kết luận: Giá trị thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát: 29A-255.29  là 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng).

Bản cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 19/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng truy tố bị cáo Nguyễn Thế H về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 60 Bộ luật hình sự; về nhân thân: bị cáo H có nhân thân tốt do vậy tuyên bố bị cáo Nguyễn thế H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, có ấn định thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Xác nhận bị cáo Nguyễn Thế H đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng), tại phiên tòa gia đình người bị hại ông Kiềng Văn Đ không yêu cầu nên không đề cập xem xét. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Xác nhận ngày 24/3/2017 Công an huyện Chi Lăng đã trả lại cho Nguyễn Thị Ngọc T gồm: 01 xe ô tô biển kiểm soát: 29A-255.29 (cùng các giấy tờ liên quan đến xe ô tô) theo quy định. Bà T không yêu cầu H phải bồi thường thiệt hại.

- Đối với giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thế H đề nghị trả lại bị cáo sau khi kết thúc phiên tòa.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người làm chứng

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thế H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 06/3/2017, tại Km 32+700, quốc lộ 1A, thuộc địa phận thôn B, xã V, huyện C, tỉnh L, bị cáo H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 29A-255.29 lưu thông hướng L– Hà Nội. Do không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, không tuân thủ quy định về tốc độ... khi tham gia giao thông đã gây tai nạn với bộ hành là ông Kiêng Văn Đ đang đi bộ qua đường. Hậu quả làm Ông Kiềng Văn Đ chết tại chỗ.

Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, phương tiện, lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác thu thập được. Xác định đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường rộng 10,10 mét, ở giữa tim đường có vạch kẻ sơn màu trắng ngắt quãng phân chia hai chiều xe chạy, lề bên phải và bên trái không có vạch sơn kẻ liền phân chia phần đường xe thô sơ, bộ hành với phần đường xe cơ giới; trước vị trí xảy ra vụ tai nạn 548,5 mét có 02 biển cảnh báo theo thứ tự gồm: Biển báo đoạn đường hay xảy ra tai nạn và biển báo đường không bằng phẳng. Vị trí xảy ra tai nạn nằm trong vùng các biển cảnh báo có hiệu lực.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ quy định: “Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn củ a người khuyết tật qua đường bảo đảm an toàn.

Và khoản 6 Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 quy định:

“Ngưi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép (có thể dừng lại một cách an toàn) trong các trường hợp sau:

1...

6. Khi có người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.”. Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Thế H đã vi phạm vào khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ; được cụ thể hóa tại khoản 6 Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải. Tuy nhiên trong vụ án này, người bị hại cũng có một phần lỗi vì đã vi phạm khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ:

“Trưng hợp không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì người đi bộ phải quan sát các xe đa ng đi tới, chỉ qua đường khi bảo đảm an toàn và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường”.

Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thế H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đ ường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 202 bộ luật hình sự. Bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường có đủ khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi việc làm của bản thân. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, tình hình an toàn giao thông tại địa phương. Chỉ vì không tuân thủ đúng quy định khi tham gia giao thông mà bị cáo đã gây ra tai nạn và hậu quả là ông Kiềng văn Đ chết tại chỗ, chính vì vậy phải bắt bị cáo chịu một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng truy tố bị cáo H là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tuy nhiên để có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Cụ thể như sau:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về việc làm của bản thân. Bản thân người bị hại cũng có một phần lỗi trong vụ án. Sau khi sự việc xẩy ra, bị cáo cũng đã tự nguyện đến cơ quan điều tra để đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi và bản thân bị cáo cũng đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại với số tiền là 180.000.000 đồng, đến nay gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm. Ngoài ra, bị cáo H còn có mẹ là bà Nguyễn Thị N được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba và Huy chương vì Sự nghiệp giáo dục. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự 1999 và 03 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự 1999.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo H là người dân lao động, làm ăn lương thiện; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, nên việc cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ thời gian để các bị cáo tu duỡng, rèn luyện bản thân.

Về bồi thường dân sự: Bị cáo và gia đình người bị hại đã thoả thuận bồi thường số tiền 180.000.000 đồng; bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho gia đình người bị hại, đến nay gia đình người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, Hội đồng xét xử chỉ cần xác nhận.

Đối với những hỏng hóc, thiệt hại của chiếc xe ô tô biển kiểm soát: 29A- 255.29. Quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Cao Thái H và bà Nguyễn Thị Ngọc T không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Xác nhận ngày 24/3/2017  Công an huyện Chi Lăng đã trả lại  cho bà Nguyễn Thị Ngọc T 01 xe ô tô biển kiểm soát: 29A-255.29 (cùng các giấy tờ liên quan đến xe ô tô) theo quy định.

- Đối với giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thế H cần tuyên trả lại bị cáo sau khi kết thúc phiên tòa.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế H phạm tội "Vi Phạm quy định điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60; Điều 33 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 18/7/2017. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, quận L, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Trong trường hợp bị cáo H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về bồi thường dân sự: Xác nhận bị cáo Nguyễn Thế H đã bồi thường cho gia đình của nạn nhân với số tiền là 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi năm triệu đồng).

3. Vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Xác nhận ngày 24/3/2017 Công an huyện Chi Lăng đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc T gồm 01 xe ô tô biển kiểm soát: 29A-255.29 (cùng các giấy tờ liên quan đến xe ô tô) theo quy định.

- Trả lại 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thế H cho bị cáo H sau khi kết thúc phiên tòa.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14  ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thế H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


80
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về