Bản án 18/2017/HSST ngày 20/07/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 18/2017/HSST NGÀY 20/7/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 20 tháng 7 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 18/2017/HSST ngày 05 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo: Nguyễn Trọng L, sinh ngày 14/7/1997 tại xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An; trú tại: xóm 2, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn 12/12; con ông Nguyễn Trọng T và bà Lê Thị K; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 16/4/2017 đến ngày 27/5/2017; hiện nay bị cáo được tại ngoại ở địa phương; có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

+ Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1981 (đã chết). Người đại diện hợp pháp của chị T, gồm: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1980; Ông Nguyễn Chân H, sinh năm 1954 và Bà Trần Thị H, sinh năm 1956, đều có địa chỉ: xóm Nam Trung, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Ông H và bà H đồng ý cử anh Nguyễn Văn Đ thay mặt họ tham gia tố tụng với tư cách là Người đại diện hợp pháp của người bị hại.

+ Cháu Nguyễn Thị Kiều A, sinh năm 2006 (đã chết).

+ Cháu Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 2010; Địa chỉ: xóm N, xã Phương Mỹ, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

Người đại diện hợp pháp của cháu A và cháu L: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1980; Địa chỉ: xóm Nam Trung, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt tại phiên tòa.

+ Cháu Ngô Thị Lan A, sinh năm 2010; Địa chỉ: xóm N, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện hợp pháp của cháu Lan A: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1976; Địa chỉ: xóm N, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1985; Địa chỉ: xóm 7, xã H, huyện T, tỉnhNghệ An; có mặt tại phiên tòa.

+ Bà Lê Thị K, sinh năm 1968; Địa chỉ: xóm 2, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào chiều ngày 13/4/2017 Nguyễn Trọng L trú tại xóm 02, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Forton biển kiểm soát 99C-068.00 đi từ huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình theo đường Hồ Chí Minh để về huyện T, tỉnh Nghệ An, trên xe có Nguyễn Xuân T (chủ xe) và Hoàng Văn Đ (người bốc hàng) là người cùng xã ngồi ở ghế phụ. Khoảng 16h cùng ngày, khi đi đến Km809+700 thuộc địa phận xóm 2, xã Phương Điền, huyện Hương Khê do không chú ý quan sát, không tuân thủ quy định về khoảng cách an toàn đối với xe chạy phía trước nên đã đâm vào phía sau xe mô tô nhãn hiệu Boss biển kiểm soát 38Y1-0937 do chị Nguyễn Thị T trú tại xóm N, xã P, huyện H điều khiển chở phía sau hai con gái là cháu Nguyễn Thị Kiều A, sinh năm 2006; cháu Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 2010 và cháu Ngô Thị Lan A, sinh năm 2010 ở cùng xóm đang đi cùng chiều phía trước làm xe mô tô ngã và trượt trên mặt đường. Hậu quả chị Nguyễn Thị T và cháu Nguyễn Thị Kiều A tử vong tại chỗ, còn cháu Nguyễn Thị Phương L và cháu Ngô Thị Lan A bị thương, xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng. Tại thông báo số 22 và số 23 ngày 15/4/2017 của Bệnh viện Đa khoa huyện Hương Khê kết luận: chị Nguyễn Thị T và cháu Nguyễn Thị Kiều A bị chấn thương sọ não, chết do tai nạn giao thông. Xe ô tô 99C-068.00, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ xe là anh Nguyễn Xuân T. Xe mô tô 38Y1-0937, Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện người bị hại là anh Nguyễn Văn Đông.

Tại Cáo trạng số 18/CTr-KSĐT ngày 31/5/2017 của Viện trưởng VKSND huyện Hương Khê truy tố Nguyễn Trọng L về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo điểm a, đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trọng L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố trên, bị cáo không kêu oan; người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 3 đến 4 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo cùng chủ xe ô tô là anh Nguyễn Xuân T đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Kiều A, Nguyễn Thị Phương L là 319.000.000đ và gia đình người bị hại Ngô Thị Lan A là 3.000.000đ. Trong quá trình điều tra đại diện gia đình các người bị hại anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị L có đơn không yêu cầu gì thêm. Tuy nhiên tại phiên tòa chị L yêu cầu bồi thường thêm số 10.000.000đ để khắc hậu quả vết sẹo trên mặt của cháu Ngô Thị Lan A (con gái chị L), bị cáo và anh Nguyễn Xuân T không chấp nhận yêu cầu bồi thường này của chị L và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án như: Sơ đồ hiện trường, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan trong vụ tai nạn giao thông, Biên bản khám nghiệm tử thi…, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định: Khoảng 14 giờ ngày 13/4/2017 Nguyễn Xuân T điều khiển xe ô tô tải BKS 99C-068.00 trên đường đi nhập keo giống từ tỉnh Quảng Bình về tỉnh Nghệ An, khi đi đến Km 860+300 thuộc địa bàn xóm 5 Thanh Lặng, xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, do T buồn ngủ nên T đã đổi lái cho Nguyễn Trọng L. Trước khi đổi lái T có hỏi L có biết lái xe tải không và đã có giấy phép lái xe chưa? L trả lời là ở nhà vẫn thường lái xe loại này và đã được cấp giấy phép lái xe hạng C. Nhưng thực tế Nguyễn Trọng L chưa có giấy phép lái xe hạng C theo quy định. Khoảng 16h cùng ngày khi Nguyễn Trọng L điều khiển xe BKS 99C-068.00 đi đến Km 809+700 thuộc địa phận xóm 2, xã Phương Điền, huyện Hương Khê do L buồn ngủ, lái xe không chú ý quan sát, không tuân thủ quy định về khoảng cách giữa các xe nên đã đâm vào phía sau xe mô tô biển kiểm soát 38Y1-0937 do chị Nguyễn Thị T điều khiển, hậu quả làm chị Nguyễn Thị T và cháu Nguyễn Thị Kiều A chết tại chỗ, cháu Nguyễn Thị Phương L và cháu Ngô Thị Lan A bị thương.

Xét nguyên nhân và lỗi xẩy ra vụ tai nạn giao thông, Hội đồng xét xử xét thấy là do hoàn toàn thuộc về bị cáo Nguyễn Trọng L. Bị cáo không có giấy phép lái xe hạng C nhưng vẫn điều khiển xe ô tô tải BKS 99C-068.00; lái xe không chú ý quan sát, không tuân thủ quy định về khoảng cách an toàn đối với xe liền trước nên đã đâm vào phía sau xe mô tô do chị Nguyễn Thị T điều khiển cùng chiều. Hành vi trên đã vi phạm vào khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định về các hành vi bị nghiêm cấm “Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định”; Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe: “Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình…”; Điều 11 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải quy định về giữ khoảng cách an toàn tối thiểu giữa hai xe: “Khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình…”. Bị cáo Nguyễn Trọng L điều khiển xe ô tô tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo quy định, đâm vào phía sau xe mô tô cùng chiều, hậu quả làm 02 người chết tại chỗ và 02 người bị thương (không yêu cầu giám định thương tật) là thuộc trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng. Như vậy hành vi trên của bị cáo Nguyễn Trọng L đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại các điểm a, đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 18/CTr-KSĐT ngày 31/5/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê truy tố bị cáo theo điểm a, đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường đầy đủ thiệt hại cho người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, thể hiện thái độ ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Người bị hại và Đại diện hợp pháp của người bị hại đều có đơn đề nghị không xử lý hình sự đối với bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Trên cơ sở xem xét hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy lời đề nghị xử phạt bị cáo của vị đại diện Viển kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Trong vụ án này có Nguyễn Xuân T là chủ xe ô tô là người đã giao cho bị cáo điều khiển để dẫn đến tai nạn, nhưng trước khi giao xe T đã hỏi bị cáo về việc đã có bằng lái xe ô tô theo quy định hay chưa thì bị cáo đã trả lời là đã có bằng lái xe hạng C và thực tế thì T cũng đã nhiều lần thấy bị cáo điều khiển xe ô tô. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để xác định trước khi giao xe ô tô cho bị cáo điều khiển, T nghĩ rằng bị cáo đã có giấy phép lái xe theo quy định, do đó không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với  Nuyễn Xuân T.

Về xử lý vật chứng: Xét các vật chứng là chiếc xe ô tô 99C-068.00, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ xe là anh Nguyễn Xuân T và chiếc xe mô tô 38Y1-0937, Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện người bị hại là anh Nguyễn Văn Đ. Việc Cơ quan điều tra trả lại các phương tiện trên cho chủ sở hữu hợp pháp trong giai đoạn điều tra là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 76 BLTTHS, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về trách nhiệm dân sự: Hiện nay người đại diện hợp pháp của người bị hại anh Nguyễn Văn Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì, nên miễn xét. Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị L yêu cầu bị cáo và anh Nguyễn Xuân Trọng phải liên đới bồi thường thêm số tiền 10.000.000đ để làm chi phí khắc phục vết sẹo trên mặt của cháu Ngô Thị Lan A trong thời gian tới. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị Lam mặc dù là số tiền cụ thể, nhưng thực tế thiệt hại chưa xảy ra (vì cháu A chưa làm phẫu thuật vết sẹo) và chị L cũng không có tài liệu, chứng từ gì để chứng minh yêu cầu của mình là phù hợp. Do vậy, Hội đồng xét xử chưa có căn cứ để xem xét đối với yêu cầu này của chị L, khi nào chị L có đầy đủ tài liệu để chứng minh về yêu cầu của mình thì chị L có quyền làm đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường bằng một vụ án khác.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L 42 tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian tạm giam từ ngày 16/4/2017 đến ngày 27/5/2017 là 01 tháng 11 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm  a   khoản 1 Điều 23; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST. Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa và vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


Án lệ liên quan 

167
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 18/2017/HSST ngày 20/07/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

Số hiệu:18/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hương Khê - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về