Bản án 39/2017/HSST ngày 08/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

BẢN ÁN 39/2017/HSST NGÀY 08/09/2017 VỀ TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 08 tháng 9 năm 2017. Tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân huyện Ba Bể xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 45/2017/HSST, ngày 18 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Hứa Văn L sinh năm 1976; Nơi ĐKNKTT: thôn L, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: lớp 5/12; Con ông: Hứa Văn H và bà Hoàng Thị H; Vợ là Lường Thị L và có 02 con (sinh năm 2003 và 2007); Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2017, nay có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi liên quan: Chị Lường Thị L sinh năm 1978; Nghề nghiệp: làm ruộng;  Trú tại: thôn L, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (có mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Hứa Văn L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Ngày 10/5/2017, tổ công tác Công an huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đang làm nhiệm vụ tuần tra tại xã Quảng Khê, huyện Ba Bể khi đi đến khu vực đập tràn thuộc thôn C, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện Hứa Văn L đang đi xe mô tô mang biển kiểm soát 97F6-1271 có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật, tổ công tác đã yêu cầu dừng xe để làm việc. Qua kiểm tra đã phát hiện, tạm giữ05 gói chứa chất bột màu trắng được gói bằng giấy vỏ bao thuốc lá màu trắng đen tại túi áo ngực bên trái đang mặc trên người của Hứa Văn L, tổ công tác đã niêm phong 05 gói chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1. Ngoài ra, còn tạm giữ của Hứa Văn L số tiền 100.000 đồng thu tại túi áo ngực bên trái; 01 ví da màu đen thu tại túi quần sau bên phải bên trong có số tiền 300.000 đồng, 02 đăng ký mô tô, xe máy (01 cái mang tên Hứa Văn L, 01 cái mang tên Ma Văn V), 01 giấy chứng minh thư nhân dân mang tên Hứa Văn L, 01 giấy phép lái xe mang tên Hứa Văn L; 01 xe mô tô biển kiểm soát 97F6-1271; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel.

Tại Cơ quan điều tra, đã tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu A1 để cân xác định trọng lượng (khối lượng) 05 gói chất bột màu trắng thu giữ của Hứa Văn L được 0,18 gam; đã niêm phong 0,18 gam chất bột màu trắng vào phong bì dán kín ký hiệu B1 và bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn để trưng cầu giám định.

Tại Thông báo kết quả giám định số 70/KTHS-MT ngày 11/5/2017 và Kết luận giám định số 65/KTHS-MT ngày 24/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 thu giữ của Hứa Văn L gửi đến giám định là chất ma túy (Heroin). Sau giám định, mẫu chất còn lại là 0,14 gam đã được niêm phong cùng phong bì, bao gói cũ vào phong bì mới ký hiệu T65 hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể để quản lý theo quy định.

Quá trình điều tra, Hứa Văn L khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 10/5/2017, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97F6-1271 từ nhà ở thôn L, xã Q, huyện B mang theo ma túy đến khu vực đập tràn thuộc thôn C, xã Q, huyện B để sử dụngvì bản thân L là người nghiện ma túy (heroin), khi đã sử dụng xong và đi về thì bị Cơ quan chức năng phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 05 gói chứa chất bột màu trắng có tổng trọng lượng 0,18 gam được gói bằng giấy vỏ bao thuốc lá màu trắng đen tại túi áo ngực bên trái đang mặc; số tiền 400.000 đồng; 01 ví da màu đen bên trong có 02 đăng ký mô tô, xe máy (01 đăng ký mang tên Hứa Văn L, 01 đăng ký mang tên Ma Văn V), 01 giấy chứng minh thư nhân dân mang tên Hứa Văn L, 01 giấy phép lái xe mang tên Hứa Văn L; 01 xe mô tô biển kiểm soát97F6-1271 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel. Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, L mua tại xã Phương Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn với một người đàn ông không rõ danh tính, mua với số tiền 250.000 đồng được 06 gói ma túy, mục đích mua về để bản thân sử dụng, sau khi mua được ma túy L đã sử dụng 01 gói, còn 05 gói đã bị Cơ quan chức năng thu giữ.

Như vậy, Hứa Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của L phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 31/KSĐT, ngày 16 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Hứa Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ ...trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Tuy nhiên, tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đíchmua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:... c) Hêrôin …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam ”… Như vậy, khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định mức hình phạt nhẹ hơn so với quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009; vận dụng các quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017, cần xem xét áp dụng điều luật có lợi cho bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng.

XÉT THẤY

Ngày 10/5/2017, tại khu vực đập tràn thuộc thôn C, xã Q, huyện B, Hứa Văn L bị Công an huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn phát hiện, bắt quả tang về hành vi cất giấu trái phép 05 gói chất bột màu trắng, L khai là ma túy (Heroin). Ngoài ra, còn thu giữ của L một số giấy tờ và tài sản khác. Cơ quan chức năng kết luận: 05 gói chất bột màu trắng thu được của Hứa Văn L có tổng trọng lượng (khối lượng) 0,18 gam là chất ma túy (Heroin).

Hành vi nêu trên của Hứa Văn L đã phạm vào tội  “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Theo Bộ luật hình sự năm 2015 thì tội này được quy định tại Điều 249. Mặc dù, BLHS năm 2015 chưa có hiệu lực pháp luật, song một số quy định có lợi cho người phạm tội vẫn được xem xét áp dụng cho bị cáo trong quá trình xét xử để thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước. Căn cứvào điểm b khoản 1, điểm h Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017; Khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 thì: “Điều luật ... quy định một hình phạt nhẹ hơn ... có lợi hơn thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”.So sánh quy định về hình phạt thấy rằng: Khoản 1 Điều 194/BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Trong khi khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015 quy định mức hình phạt tù từ01 năm đến 05 năm. Như vậy, Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015 quy định mức hình phạt nhẹ hơn so với điều luật cũ, nên cần áp dụng khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015 để tuyên xử đối với bị cáo. Do đó, cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 3 Điều 7/BLHS 2015; điểm b khoản 1, điểm h Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 đối với Hứa Văn L. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây là cố ý gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, an ninh xã hội. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

*Xét về nhân thân bị cáo: 

Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai báo trong quá trình thực hiện nghĩa vụ quân sự bị cáo được tặng giấy khen. Xét Bị cáo có sức khỏe nhưng không chịu tu dưỡng,rèn luyện làm gương cho người khác, mà lại lao vào con đường nghiện chất ma túy, nên khi xem xét lượng hình cần phải có một hình phạt thỏa đáng tương xứng với hành vi phạm tội của Bị cáo. Bị cáo đã có thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 10/05/2017 nên được tính vào thời gian thụ hình

Trong vụ án này, theo lời khai của Hứa Văn L: Nguồn gốc số ma túy L tàng trữ, L mua với một người đàn ông không rõ họ, tên, địa chỉ tại xã Phương Viên, huyện Chợ Đồn. Do vậy, không có căn cứ để điều tra, xác minh.

*Về vật chứng của vụ án:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện huyện Ba Bể đã xử lý những vật chứng sau:

+ Trả lại cho chị Lường Thị L (vợ bị cáo): 01 (một) xe máy biển kiểm soát 97F6-1271 nhãn hiệu HONDA, loại xe WAWE mầu đỏ đen và 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô kèm theo.

Trả lại cho ông Hứa Văn H (bố đẻ bị cáo): 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô mang tên Ma Văn V.

- Đối với những vật chứng còn lại:

+ 01 (một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T65, bên trong chứa mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là 0,14 gam cùng phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi mẫu hoàn trả vụ “T65”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01(một) ví da đã qua sử dụng. Tất cả đều không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vietten màu đỏ và số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng), không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để trừ vào số tiền phải thi hành án cho bị cáo

+ 01 (một) giấy phép lái xe và 01 (một) giấy chứng minh nhân dân đều mangtên Hứa Văn L cần trả lại cho bị cáo

Hình phạt bổ sung và án phí:

Bị cáo phải chịu thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền và án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố

Bị cáo Hứa Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: khoản 1, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm b Khoản 1, điểm h Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Hứa Văn L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắttạm giữ, tạm giam 10/5/2017.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Hứa Văn L 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Việc thi hành án khoản  tiền phạt được thực hiện theo Điều 357 Bộ luật dân sự.

2. Về vật chứng:

Áp dụng: Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã được niêm phong ký hiệu T65, bên trong chứa 0,14 gam chất ma túy và 01(một) ví da đã qua sử dụng.

Trả lại cho Hứa Văn L: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đỏ và số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng), nhưng tạm giữ để trừ vào số tiền phải thi hành án cho bị cáo.

Trả lại cho Hứa Văn L: 01 (một) giấy phép lái xe và 01 (một) giấy chứng minh nhân dân đều mang tên Hứa Văn L. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/8/2017 giữa Công an huyện Ba Bể và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể).

3. Về án phí:

Áp dụng: Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí. Buộc bị cáo Hứa Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyệnthi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự” - Theo Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, Người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


96
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về