Bản án 38/2019/HS-ST ngày 28/02/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 38/2019/HS-ST NGÀY 28/02/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 28/02/2019 tại Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2019/TLST-HS ngày 30/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng02 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Thị T. Giới tính: Nữ

Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 15 tháng 8 năm 1965; Tại tỉnh: Bình Định.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 5/12.

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông: Hà C (đã mất); con bà: Nguyễn Thị T1 (đã mất).

Bị cáo có chồng là: Bùi Thúc D, sinh năm: 1966 và có 03 con: lớn nhất sinh năm: 1991, nhỏ nhất sinh năm: 2001. Hiện đều trú tại: Đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Nhân thân: Sinh ra và lớn lên tại tỉnh Bình Định. Được bố, mẹ nuôi ăn học đến lớp 05/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 1985, kết hôn với ông Bùi Thúc D. Năm 1999, đến thành phố B và sinh sống ở Đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cho đến nay.

Ngày 09/9/2018, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk bắt quả tang và tạm giữ về hành vi đánh bạc. Ngày 18/9/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Phạm Hồng Q – Sinh năm 1965

Địa chỉ: Buôn K, xã D, Huyện K, Đắk Lắk – Vắng mặt

- Ông Nguyễn Văn L – Sinh năm 1980

Địa chỉ: Xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

- Ông Y S Niê – Sinh năm 1994

Địa chỉ: Đường N, phường T, thành phố B, Đắk Lắk – Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Văn N – Sinh năm 1961

Địa chỉ: Đường N, phường T, thành phố B, Đắk Lắk – Vắng mặt.

- Ông Bùi Ngọc L – Sinh năm 1977

Địa chỉ: Đường A, phường T, thành phố B, Đắk Lắk – Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Văn M– Sinh năm 1968

Địa chỉ: Buôn P, phường T, thành phố B, Đắk Lắk – Vắng mặt.

- Bà H’J Niê – Sinh năm 1987

Địa chỉ: Đường Y, phường T, thành phố B, Đắk Lắk – Có mặt.

- Ông Bùi Thúc D – Sinh năm 1966

Địa chỉ: Đường A, phường T, thành phố B, Đắk Lắk – Có mặt.

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Quang T – Sinh năm 1986

Địa chỉ: Đường Y, phường T, thành phố B, Đắk Lắk – Vắng mặt.

- Ông Trần Văn K– Sinh năm 1989

Địa chỉ: Đường Y1, phường T, thành phố B, Đắk Lắk – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17h30’ ngày 09/9/2018, tại quán Internet “O” Đường A,phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk phát hiện, bắt quả tang Hà Thị T đang thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số để thu lợi bất chính cho Nguyễn Văn L, Phạm Hoàng Q và các con bạc khác.

Hình thức đánh số đề và cách xác định thắng thua như sau: Người ghi số đề và người mua số đề quy ước với nhau về việc lấy kết quả xổ số kiến thiết của các đài như: Thứ hai là đài Phú Yên, thứ ba là đài Đắk Lắk, thứ tư và thứ bảy là đài Đà Nẵng, thứ năm là đài Bình Định, thứ sáu là đài Gia Lai, chủ nhật là đài Kom Tum và đài Khánh Hòa. Kết quả xổ số gồm 09 giải, từ giải tám đến giải đặc biệt với 18 (mười tám) dãy số ở tất cả các giải và người chơi được mua số có tối thiểu là 02 chữ số, tối đa là 03 chữ số, trên các lô xổ số kiến thiết. Có hai hình thức ghi số đề là bao lô và đầu cuối (hoặc đầu chót). Đánh bao lô là đánh theo điểm, cứ một điểm tương ứng với 13.000 đồng (mười ba ngàn đồng) đối với tất cả các đài, riêng đài miền Bắc thì một điểm tương ứng với 21.000 đồng (hai mươi mốt ngàn đồng). Trong đó, có hai hình thức bao lô: Bao lô hai chân: Nếu bao lô hai chân trúng thì cứ một điểm tương ứng với 70.000 đồng (bảy mươi ngàn đồng); và bao lô ba chân: Nếu trúng thì cứ một điểm tương ứng với số tiền 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng). Đánh đầu cuối là đánh đầu cuối hai chân và ba chân. Trong đó: Đầu cuối hai chân trúng thì tỷ lệ 1.000 đồng tương ứng số tiền 70.000 đồng; đầu cuối ba chân trúng thì tỷ lệ 1.000 đồng tương ứng số tiền 500.000 đồng. Đánh đầu cuối thì đánh theo số tiền của các con bạc (không đánh theo điểm), T chỉ nhận khoảng 80% số tiền thực tế ghi trên phơi đề. Nếu kết quả sổ số kiến thiết không có số đã mua thì người chơi thua chính số tiền đã cá cược .

Bị cáo Hà Thị T khai: Vào cuối tháng 8 năm 2018, T nảy sinh ý định đánh bạc dưới hình thức ghi số đề được thua bằng tiền tại quán Internet “O” ở tại đường A, phường T, thành phố B để thu lợi bất chính. Để thu hút các con bạc đến ghi số đề, T chỉ lấy của các con bạc từ 80% số tiền con bạc cá cược, số tiền còn lại T khuyến mãi cho các con bạc tuy nhiên khi các con bạc thắng số đề, T phải chung 100% số tiền các con bạc cá cược. Vào khoảng 16h00’ ngày 09/9/2018, Phạm Hoàng Q, Nguyễn Văn L đến gặp T mua số đề. Q đánh đài Kom Tum số 33 bao lô 50 điểm thành tiền là 650.000 đồng; số 44 bao lô 50 điểm thành tiền 650.000 đồng; số 34 cuối hai chân thành tiền 160.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 1.500.000 đồng nhưng T chỉ lấy tiền của Q 1.460.000 đồng. L mua đài Kom Tum số 98 bao lô 100 điểm thành tiền 1.300.000 đồng; số 798 bao lô 20 điểm thành tiền 260.000 đồng; số 798 đầu 100.000 đồng, cuối 100.000 đồng thành tiền 200.000 đồng; số 698 đầu 100.000 đồng, cuối 100.000 đồng, thành tiền 200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 1.960.000 đồng nhưng T chỉ lấy tiền của L 1.880.000 đồng. Khoảng 16h30’ cùng ngày, có Nguyễn Văn M đến gặp T mua số đề. M mua số đề đài Kom Tum số 09 bao lô 10 điểm thành tiền 130.000 đồng; số 52 bao lô 20 điểm thành tiền 260.000 đồng; số 21 bao lô 10 điểm thành tiền 130.000 đồng; số 25 bao lô 20 điểm thành tiền 260.000 đồng; số 37 bao lô 20 điểm thành tiền 260.000 đồng; số 90 bao lô 10 điểm thành tiền 130.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 1.170.000 đồng. Bùi Ngọc L mua số đề đài Kom Tum số 21 bao lô 10 điểm thành tiền 130.000 đồng. Nguyễn Văn N ghi số 48 bao lô 5 điểm thành tiền 65.000 đồng. Y S Niê mua đề đài Kom Tum số 29 đầu 6.000 đồng, cuối 6.000 đồng, thành tiền 12.000 đồng; số 02 đầu 12.000 đồng, cuối 12.000 đồng, thành tiền 24.000 đồng; số 75 đầu 12.000 đồng, cuối 12.000 đồng, thành tiền 24.000 đồng; số 07 đầu 6.000 đồng, cuối 6.000 đồng, thành tiền 12.000 đồng; số 207 cuối ba chân với số tiền 6.000 đồng, thành tiền 5000 đồng; số 529 đầu 6.000 đồng, cuối6.000 đồng, thành tiền 12.000 đồng; số 68 đầu 30.000 đồng, cuối 30.000 đồng, thành tiền 60.000 đồng; số 86 đầu 20.000 đồng, cuối 20.000 đồng, thành tiền 40.0000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 190.000 đồng nhưng T chỉ lấy của Y S 157.000 đồng. Khoảng 16h40’ cùng ngày, H’J Niê mua số đề đài Kom Tum số 47 bao lô 10 điểm thành tiền 130.000 đồng, số 18 bao lô 2 điểm thành tiền26.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 156.000 đồng. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, L và Q tiếp tục đến gặp T để mua đề đài Miền Bắc. L mua số 358 bao lô 25 điểm thành tiền 525.000 đồng, T viết phơi đề đưa cho L; Q mua số 78 bao lô 20 điểm thành tiền 420.000 đồng, khi T đang viết phơi đề cho Q, chưa nhận tiền thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên người T số tiền 14.300.000 đồng. Trong đó, có 5.543.000 đồng tiền mua đề của Phạm Hoàng Q, Nguyễn Văn L, Y S Niê, Nguyễn Văn N, Bùi Ngọc L, Nguyễn Văn M, H’J Niê; số tiền còn lại của các con bạc khác. Tổng số tiền T ghi số đề cho các con bạc đài Kom Tum13.894.000 đồng nhưng thực tế T chỉ nhận là 12.724.000 đồng, đài Khánh Hòa780.000 đồng, đài miền Bắc 525.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T thực nhận từ các con bạc của đài Kom Tum, đài Khánh Hòa và đài miền Bắc vào ngày 09/9/2018 là 14.029.000 đồng. Khi có kết quả xổ số kiến thiết đài Kom Tum và đài Khánh Hòa thì có một số con bạc trúng đề với tổng số tiền 4.480.000 đồng (người trúng nhiều nhất là 1.400.000 đồng, người trúng ít nhất là 280.000 đồng) và một số con bạc khác trúng số đề nhưng chưa rõ nhân thân, lai lịch.

Phạm Hoàng Q khai: Vào khoàng 16h00’ ngày 09/9/2018, Q cùng với Nguyễn Văn L đi đến quán Internet “O” của Hà Thị T tại Đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để đánh bạc dưới hình thức ghi số đề. Khi đến nơi, Q vào gặp T mua số đề đài Kom Tum số 33 bao lô 50 điểm thành tiền 650.000 đồng; số 44 bao lô 50 điểm thành tiền 650.000 đồng, số 34 giải đặc biệt cuối hai chân với số tiền 200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 1.500.000 đồng nhưng T chỉ thu của Q 1.460.000 đồng. Khi có kết quả xổ số đài Kom Tum thì Q không trúng. Khoảng 17h30’ cùng ngày, Q cùng L đến nhà T tiếp tục mua số đề đài miền Bắc với số 78 bao lô 20 điểm thành tiền 420.000 đồng. Khi T đang ghi phơi đề cho Q thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk bắt quả tang, thu giữ trên người Q số tiền 420.000 đồng và một tờ phơi đề đài Kom Tum. Như vậy, tổng số tiền Q đánh bạc là 1.460.000 đồng

Nguyễn Văn L khai: Vào khoảng 16h00’ ngày 09/9/2018, L cùng với Phạm Hoàng Q đi đến quán Internet “O” của Hà Thị T ở Đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để đánh bạc dưới hình thức ghi số đề. Khi đến nơi, L vào gặp T mua số đề đài Kom Tum số 98 bao lô 100 điểm thành tiền 1.300.000 đồng; số 798 bao lô 20 điểm thành tiền 260.000 đồng; số 798 đầu100.000 đồng, cuối 100.000 đồng, thành tiền 200.000 đồng; số 698 đầu100.000 đồng, cuối 100.000 đồng, thành tiền 200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 1.960.000 đồng nhưng T chỉ thu của L 1.880.000 đồng. Khi có kết quả xổ số đài Kom Tum, L không trúng. Khoảng 17h30’ cùng ngày, L cùng Q đến nhà T tiếp tục mua số đề đài miền Bắc với số 358 bao lô 25 điểm thành tiền 525.000 đồng. T viết phơi đề đưa cho L, L đứng đợi Q, khi T đang ghi đề cho Q thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk bắt quả tang, thu giữ trên người L hai tờ phơi đề đài Kom Tum và đài miền Bắc. Như vậy, tổng sốtiền L đánh bạc là 2.405.000 đồng

Y S Niê khai: Vào khoảng 16h00’ ngày 09/9/2018, Y S Niê đi đến quán Internet “O” của Hà Thị T ở Đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để đánh bạc dưới hình thức ghi số đề. Khi đến nơi, Y S vào gặp T mua số đề đài Kom Tum số 29 đầu 6.000 đồng, cuối 6.000 đồng, thành tiền 12.000 đồng; số 02 đầu 12.000 đồng, cuối 12.000 đồng, thành tiền 24.000 đồng; số 75 đầu 12.000 đồng, cuối 12.000 đồng, thành tiền 24.000 đồng; số 07 đầu 6.000 đồng, cuối 6.000 đồng, thành tiền 12.000 đồng; số 207 cuối ba chân với số tiền 6.000 đồng, thành tiền 5.000 đồng; số 529 đầu 6.000 đồng, cuối 6.000 đồng, thành tiền 12.000 đồng; số 68 đầu 30.000 đồng, cuối 30.000 đồng, thành tiền 60.000 đồng; số 86 đầu 20.000 đồng, cuối 20.000 đồng, thành tiền 40.000 đồng . Như vậy, tổng số tiền Y S Niê đánh bạc là 190.000 đồng nhưng T chỉ lấy của Y S 157.000 đồng. Sau đó, Y S bị Cơ quan điều tra phát hiện, do tờ phơi đề mất nên không giao nộp cho Cơ quan điều tra

Nguyễn Văn N khai: Vào khoảng 16h40’ ngày 09/9/2018, N đến quán Internet “O” của Hà Thị T ở Đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắđể đánh bạc dưới hình thức ghi số đề. Khi gặp T, N mua số đề đài Kom Tum số48 bao lô 5 điểm thành tiền 65.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền N đánh bạc là65.000 đồng. Sau đó, N bị Cơ quan điều tra phát hiện và do quen biết nên T không viết phơi đề cho N.

Bùi Ngọc L khai: Vào khoảng 16h30’ ngày 09/9/2018, L đến quán Internet “O” của Hà Thị T ở Đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để đánh bạc dưới hình thức ghi số đề. Khi gặp T, L mua số đề đài Kom Tum số 21 bao lô 10 điểm thành tiền 130.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền L đánh bạc là 130.000 đồng. Sau đó, L bị Cơ quan điều tra phát hiện, do không trúng nên L đã vứt phơi đề nên không giao nộp cho Cơ quan điều tra

Nguyễn Văn M khai: Vào khoảng 16h40’ ngày 09/9/2018, M đến quán Internet “O” của Hà Thị T ở Đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để đánh bạc dưới hình thức ghi số đề. Khi gặp T, M mua số đề đài Kom Tum số 09 bao lô 10 điểm thành tiền 130.000 đồng; số 52 bao lô 20 điểm thành tiền 260.000 đồng; số 21 bao lô 10 điểm thành tiền 130.000 đồng, số 25 bao lô 20 điểm tương ứng 260.000 đồng, số 37 bao lô 20 điểm thành tiền 260.000 đồng; số 90 bao lô 10 điểm thành tiền 130.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền M đánh bạc là 1.170.000 đồng. Sau đó, M bị Cơ quan điều tra phát hiện, do không trúng nên M đã vứt tờ phơi đề nên không giao nộp cho Cơ quan điều tra

H’J Niê khai: Vào khoảng 16h40’ ngày 09/9/218, H’J đến quán Internet “O” của Hà Thị T ở đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để đánh bạc dưới hình thức ghi số đề. Khi gặp T, H’ J mua số đề đài Kom Tum số 47 bao lô 10 điểm thành tiền 130.000 đồng; số 18 bao lô 2 điểm thành tiền 26.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền H’J đánh bạc là 156.000 đồng. Sau đó, H’ J bị Cơ quan điều tra phát hiện. Khi có kết quả xổ số đài Kom Tum thì H’ J trúng nhưng chưa kịp nhận tiền trúng đề thì nghe T bị bắt quả tang nên đã vứt tờ phơi đề do đó không giao nộp cho Cơ quan điều tra

Tại Kết luận định giá tài sản số: 01/KLĐG ngày 10/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 (một) phần căn phòng khách (khu vực quầy tính tiền) của căn nhà Đường A, phường T, thành phố B có diện tích (3,3x1,4)m = 4,62m2. Có kết cấu như sau: Móng xây đá hộc, tường xây gạch 10, mái bê tông cốt thép, không đóng trần, nền lát gạch hoa 300x300, chiều cao 5,6m, chất lượng còn 60%, trị giá (4,62m2 x (4.20.000 đồng/m2 + 210.000 đồng/m2 – 453.000 đồng/m2)) x 60% = 10.968.804 đồng (mười triệu chín trăm sáu mươi tám ngàn tám trăm lẻ bốn đồng)

Tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 30/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh ĐắkLắk đã truy tố bị cáo Hà Thị T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Hà Thị T khai nhận hành vi phạm tội đúng như đã khai nhận tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp. Buôn Ma Thuột và phù hợp với nội dung truy tố tại bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hà Thị T và giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày30/01/2019. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Thị T với mức án từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng

- Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án sáu tờ giấy phơi đề là tang vật của vụ án;

Tịch thu tiêu hủy ba chiếc bút bi màu xanh - đỏ - đen; một cuốn lịch ngàytháng của năm 2018 từ tờ của ngày 05/11/2018 đến 31/12/2018 là dụng cụ bị cáo T sử dụng làm phương tiện phạm tội;

Tịch thu sung công quỹ nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, model A33W gắn hai sim số 0935108066 và 01632499530; một chiếc máy tính cầm tay hiệu Flexio là phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội;

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 14.720.000 đồng (trong đó: 14.300.000 đồng tạm giữ của bị cáo T và 420.000 đồng tạm giữ của Phạm Hoàng Q) là tài sản liên quan đến hành vi phạm tội;

Đối với số tiền 4.480.000 đồng là số tiền các con bạc trúng số đề mà bị cáo chưa đưa cho các con bạc cần truy thu sung công quỹ nhà nước.

Trả lại cho bị cáo Hà Thị T số tiền 20.000.000 đồng đã thu giữ của bị cáo nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội. Tuy nhiên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

- Về phần dân sự: Tịch thu một phần hai giá trị của một phần căn phòng khách (khu vực quầy tính tiền) của căn nhà Đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo sử dụng để ghi số đề, tương ứng số tiền 5.484.402 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Lời khai của bị cáo Hà Thị T tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận:

Do ý thức coi thường pháp luật, vì mục đích vụ lợi bất chính nên ngày 09/9/2018 tại quán Internet O, địa chỉ Đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Hà Thị T đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số đề thắng thua trực tiếp với các con bạc và bị bắt quả tang với tổng số tiền đánh bạc là 18.509.000 đồng (trong đó số tiền các con bạc đưa cho T để ghi số đề là14. 029.000 đồng và tiền các con bạc thắng đề là 4.480.000 đồng)

Hành vi của bị cáo Hà Thị T phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự

Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng đồng thời còn gây ảnh hưởng đến trật tự an ninh xã hội, bị cáo nhận thức được rằng đánh bạc được thua bằng tiền dưới bất kỳ hình thức nào là tệ nạn xã hội và bị pháp luật nghiêm cấm, song do ý thức coi thường pháp luật, vì động cơ vụ lợi bị cáo đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

 [2] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hà Thị T là người cónơi cư trú rõ ràng, có xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Hà Thị T đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối hận. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Qua xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng tặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định của pháp luật cũng đảm bảo được tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

 [3] Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

- Về xử lý vật chứng:

Đối với sáu tờ giấy phơi đề là tang vật của vụ án nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án;

Đối với ba chiếc bút bi màu xanh - đỏ - đen; một cuốn lịch ngày tháng của năm 2018 từ tờ của ngày 05/11/2018 đến 31/12/2018 là dụng cụ bị cáo T sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, model A33W gắn hai sim số 0935108066 và 01632499530; một chiếc máy tính cầm tay hiệu Flexio là phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội cần tịch thu sung công quỹ nhà nước;

Đối với 14.720.000 đồng (trong đó: 14.300.000 đồng tạm giữ của bị cáo T và 420.000 đồng tạm giữ của Phạm Hoàng Q) là tài sản liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung công quỹ nhà nước;

Đối với số tiền 4.480.000 đồng là số tiền các con bạc trúng số đề mà bị cáo chưa đưa cho các con bạc cần truy thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với số tiền 20.000.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo T nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

- Về phần dân sự: Đối với địa điểm đánh bạc là một phần căn phòng khách (khu vực quầy tính tiền) của căn nhà đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo sử dụng để ghi số đề. Quá trình điều tra xác minh, đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo Hà Thị T với ông Bùi Thúc D mua của bà Phạm Thị C, trú tại khối F, phường T, thành phố B từ năm 1999 nhưng cho đến nay, gia đình bị cáo vẫn chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu. Vì vậy, cần tịch thu một phần hai giá trị của một phần căn phòng tương ứng số tiền 5.484.402 đồng để sung công quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.

 [4] Đối với hành vi của Bùi Ngọc L, H’ J Niê, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn M, Phạm Hoàng Q, Nguyễn Văn L, Y S Niê chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc nên phòng Cảnh sát hình sự (PC02) - Công an tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền, theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là phù hợp, cần chấp nhận.

 [5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Tp. Buôn Ma Thuột; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không xuất trình thêm chứng cứ, tài liệu gì, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Hà Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Hà Thị T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơthẩm. Bị cáo được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2018 đến18/9/2018.

Giao bị cáo Hà Thị T cho UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự để giải quyết.

* Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

- Về xử lý vật chứng:

Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án sáu tờ giấy phơi đề là tang vật của vụ án; Tịch thu tiêu hủy ba chiếc bút bi màu xanh - đỏ - đen; một cuốn lịch năm 2018 từ tờ của ngày 05/11/2018 đến 31/12/2018 là dụng cụ bị cáo T sử dụng làm phương tiện phạm tội;

Tịch thu sung công quỹ nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, model A33W gắn hai sim số 0935108066 và 01632499530; một chiếc máy tính cầm tay hiệu Flexio là phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội;

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 14.720.000 đồng (trong đó: 14.300.000 đồng tạm giữ của bị cáo T và 420.000 đồng tạm giữ của PhạmHoàng Q) là tài sản liên quan đến hành vi phạm tội;

Truy sung công quỹ nhà nước số tiền 4.480.000 đồng là tiền các con bạc trúng số đề mà bị cáo T chưa đưa cho các con bạc.

Trả lại cho bị cáo T số tiền 20.000.000 đồng do đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

- Về phần dân sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước một phần hai giá trị của một phần căn phòng khách (khu vực quầy tính tiền) của căn nhà đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo sử dụng để ghi số đề tương ứng số tiền 5.484.402 đồng.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Hà Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.


53
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về