Bản án 64/2017/HSST ngày 18/10/2017 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH.

BẢN ÁN 64/2017/HSST NGÀY 18/10/2017 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 18/10/2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2017/HSST ngày 29 tháng 9 năm 2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số64/2017/QĐXX- HSST ngày 06/10/2017 đối với bị cáo: Họ và tên: Trần Văn N, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Thôn D, xã N, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 0 5/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo : Không.Họ và tên bố: Trần Văn P, sinh năm 1949. Họ và tên mẹ: Phạm Thị T, sinh năm 1949; gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền sự: Không;

Tiền án: 01 tiền án. Tại bản án số 26/2016/HSST ngày 20/4/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt Trần Văn N 10 tháng tù về tội “Đánh bạc”, Ngày 12/10/2016 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù đến nay chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/7/2017 (Bị cáo có mặt tại phiên Tòa).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1, Anh Vũ Ngọc A, sinh năm 1986.

2, Anh Bùi Trung K, sinh năm 1983.

3, Anh Kim Văn V, sinh năm 1981.

Đều địa chỉ tại: Thôn H, xã N, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

4, Anh Tô Xuân T, sinh năm 1990.

Địa chỉ: thôn Đ1, xã T, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

5, Nguyễn Văn T1, sinh năm 1971 Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 6, Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985 7, Trần Văn T3, sinh năm 1987 Đều địa chỉ: Thôn A1, xã B, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. (Anh An, anh K, anh Văn, anh T, anh T1, anh T2, anh T3 tất cả đều vắng mặt tại phiên Tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 14/7/2017, Trần Văn N sinh năm 1979, trú tại Thôn D, xã N đến nhà Vũ Ngọc A sinh năm 1986, ở thôn H xã N thì gặp Bùi Trung K sinh năm 1983 ở cùng thôn, Tô Xuân T sinh năm 1990 ở thôn Đ1, xã T; Nguyễn Quang Huy sinh năm 1992, thôn B, xã B. Tại đây, T, Nghĩa, K rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa trên tầng 02 của gia đình An. An trải chiếu, lấy 01 bộ bát đĩa sứ màu trắng và cắt quân vị từ lá bài tú lơ khơ đưa cho mọi người chơi. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày có Kim Văn V, sinh năm 1981 ở thôn H, Nguyễn Văn T1 sinh năm 1971 ở thôn Đ đều ở xã N, Trần Văn T2 sinh năm 1985 ở thôn A, Trần Văn T3 sinh năm 1987 ở thôn A1, đều ở xã B đến chơi cùng. Các đối tượng thỏa thuận mức đặt cửa thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là 100.000 đồng, quá trình chơi N và K là người cầm cái. Các đối tượng chơi đến khoảng 16h00 cùng ngày thì bị Công an huyện Tiền Hải phát hiện bắt quả tang. Các đối tượng cầm tiền ở dưới chiếu cất giấu vào người. Công an huyện Tiền Hải đã thu giữ và lập biên bản quản lý một bộ bát đĩa bằng sứ màu trắng đã vỡ, bốn quân vị được cắt từ quân bài tú lơ khơ, ngoài ra còn thu trên người các đối tượng tiền và đồ vật như sau: Quản lý của Trần Văn N 01 điện T di động NOKIA màu vàng. Quản lý của Trần Văn T2 01 điện T di động NOKIA đen trắng. Quản lý của Tô Xuân T 01 điện Tiphone 6 plus màu xám; số tiền 6.100.000 đồng. Quản lý của Nguyễn Văn T1 01 điện T di động 1280 trắng đen, số tiền 970.000 đồng. Quản lý của Kim Văn V 01 điện T di động mobile màu xanh; số tiền 600.000 đồng. Quản lý của Trần Văn T3 01 điện Tiphone 5 S màu trắng, số tiền 2.300.000 đồng. Quản lý của Vũ Ngọc A 01 điện T di động sam sung màu xám. Quá trình bắt giữ Bùi Trung K đã chạy thoát đến ngày 20/7/2017 lên Công an huyện Tiền Hải khai báo sự việc và giao nộp số tiền 200.000 đồng dùng để đánh bạc.

Quá trình điều tra chỉxác định được số tiền các đối tượng khai nhận dùng vào việc đánh bạc là 3.800.000 đồng cụ thể như sau: Trần Văn T3 khai mang theo 2.000.000 đồng sử dụng hết vào việc đánh bạc, quá trình chơi thắng T3 300.000 đồng. Tô Xuân T khai mang theo 5.800.000 đồng nhưng chỉ sử dụng 800.000 đồng đánh bạc, quá trình chơi thắng T3 300.000 đồng. Trần Văn N mang theo 500.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi bị thua hết. Nguyễn Văn T1 khai mang theo khoảng 1.000.000 đồng, sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc, không rõ thắng thua, khi bị bắt T1 cầm 200.000 đồng ở dưới chiếu cất giấu trong người. Bùi Trung K khai mang theo 200.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thắng 100.000 đồng đưa cho Văn chơi, khi bị bắt K cầm 200.000 đồng ở dưới chiếu bỏ chạy. Kim Văn V khai mang theo 600.000 đồng không dùng để đánh bạc, K cho V 100.000 đồng để đánh bạc và bị thua. Trần Văn T2 khai mang theo 100.000 đồng sử dụng để đánh bạc, quá trình chơi bị thua.Bản cáo trạng số 65/KSĐT ngày 28/9/2017 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “ Đánh bạc” theokhoản 1 điều 248 Bộ Luật Hình sự . Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tôi như bản cáo trạng đã nêu là đúng, bị cáo không khai T3 tình tiết mới. Bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay nhục hình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình luận tội và tranh luận: Trong qúa trình điều tra, truy tố và tại phiên Tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Văn N theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 248, điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46; điều 33 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nghĩa. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cải tạo trở thành người lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an hu yện Tiền Hải, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn N, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn N có trong hồ sơ vụ án và tại phiên Tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải lập hồi 16h30 ngày 14/7/2017 tại gia đình anh Vũ Ngọc A, các biên bản quản lý vật chứng, đồ vật, tài sản do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải lập ngày 14/7/2017 tại gia đình anh Vũ Ngọc A vàlập ngày 20/7/2017 tại Trụ sở Công an huyện Tiền Hải, sơ đồ thể hiện vị trí các đối tượng ngồi đánh bạc do các đối tượng tự viết, lời khai của người làm chứng là anh Nguyễn Quang H, sinh năm 1992 ở thôn B, xã B, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đ ã đ ủ c ăn c ứ khẳng định: Khoảng 16 giờ ngày 14/7/2017 tại nhà Vũ Ngọc A ở thôn H, xã N, Công an huyện Tiền Hải phát hiện và bắt quả tang các đối tượng Bùi Trung K, Tô Xuân T; Kim Văn V;Nguyễn Văn T1, Trần Văn T2, Trần Văn T3; Trần Văn N đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền. Công an huyện Tiền Hải đã quản lý tổng số tiền là 10.170.000 đồng, trong đó số tiền các đối tượng dùng đánh bạc là 3.800.000 đồng. Tro ng số các đối tượng tham gia đánh bạc có Trần Văn N có 01 tiền án về tội: “Đánh bạc” và chưa được xóa án tích.

Hành vi phạm tội của Trần Văn N là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, việc xét xử bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết để giáo dục bị cáo và có tác dụng trong việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tội đánh bạc” theo khoản 1 điều 248 Bộ luật hình sự.

Điều 248. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 321 Tội Đánh bạc (Bộ Luật Hình sự  2015)

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3]. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự và bố bị cáo Nghĩa trước đây là thanh niên xung phong có giấy chứng nhận được hưởng chính sách như thương binh do đó bị cáo được áp dụng T3 khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự. Vì vậy, nên giảm cho bị cáo một p hần hình phạt đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo củanhà nước ta [4]. Bị cáo Trần Văn N cùng các anh K, anh Văn, anh T, anh T1, anh T2, anh T3 rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa , sau đó bị cáo N tham gia đánh xóc đĩa số tiền dùng vào việc đánh xóc đĩa 500.000 đồng. Trong quá trình đánh xóc đĩa N là người cầm cái. Bị cáo N có nhân thân xấu, tại bản án số 26/2016/HSST ngày 20/4/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt Trần Văn N 10 tháng tù về tội “Đánh bạc” do đó phải cách ly xã hội một thời gian. Từ những phân tích và đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn N cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng ”. Xét bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Trong vụ án này có Bùi Trung K sinh năm 1983, trú tại thôn H, xã N, Tô Xuân T sinh năm 1990 ở thôn Đ1, xã T; Kim Văn V, sinh năm 1981 ở thôn H, xã N; Nguyễn Văn T1 sinh năm 1971 ở thôn Đ, xã N, Trần Văn T2, sinh năm 1985 ở thôn A, xã B, Trần Văn T3, sinh năm 1987 ở thôn A1, xã B cùng tham gia đánh bạc, tuy nhiên quá trình điều tra xác định tổng số tiền các đối tượng dùng vào việc đánh bạc là dưới 05 triệu đồng, hơn nữa các đối tượng này đều chưa có tiền án về tội Đánh bạc, Gá bạc hoặc Tổ chức đánh bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với Vũ Ngọc A là chủ nhà, quá trình điều tra xác định A là người trải chiếu, chuẩn bị bát đĩa, quân vị nhưng A không thu tiền gì của các đối tượng và cũng không tổ chức canh coi hay cầm cố tài sản, khô ng được hưởng lợi gì từ việc để cho các đối tượng đánh bạc tại gia đình, bản thân A chưa có tiền án, tiền sự gì về tội Đánh bạc, Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với A là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với bảy chiếc điện T cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo N, anh T2, anh T, anh T1, anh Văn, anh T3, anh A không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận cơ quan điều tra Công an huyện Tiền Hải đã trả lại cho bị cáo Trần Văn N 01 điện T di động NOKIA màu vàng. Trả cho anh Trần Văn T2 01 điện T di động NOKIA đen trắng. Trả cho anh Tô Xuân T 01 điện Tiphone 6 p lus màu xám;Trả cho anh Nguyễn Văn T1 01 điện T di động 1280 trắng đen, Trả cho anh Kim Văn V 01 điện T di động mobile màu xanh; Trả cho anh Trần Văn T3 01 điện Tiphone 5 S màu trắng, Trả cho anh Vũ Ngọc A 01 điện T di động sam sung màu xám là phù hợp với quy định của pháp luật.

Cơ quan điều tra đã thu giữ một bát đĩa sứ màu trắng đã vỡ, 04 quân bài vị được cắt từ quân bài tú lơ khơ đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với khoản tiền 3.800. 000 đồng cơ quan điều tra thu trên chiếu bạc đây là khoản tiền bị cáo Nghĩa, anhBùi Trung K, anh Tô Xuân T, anh Kim Văn V, anh Nguyễn Văn T1, anh Trần Văn T2 và anh Trần Văn T3 dùng vào việc đánh bạc, do đó cần tịch thu, sung quỹ nhà nước là phù hợp với điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với khoản tiền 5.000.000 đồng cơ quan điều tra thu giữ của anh T, đây là khoản tiền của anh T không dùng vào việc đánh bạc, nên cần T1 trả cho anh T là phù hợp.

Đối với khoản tiền 770.000 đồng cơ quan điều tra thu giữ của anh T1, đây là khoản tiền của anh T1 không dùng vào việc đánh bạc, nên cần T1 trả cho anh T1 là phù hợp. Đối với khoản tiền 600.000 đồng cơ quan điều tra thu giữ của anh V, đây là khoản tiền của anh V không dùng vào việc đánh bạc, nên cần T1 trả cho anh V là phù hợp.

[7]. Bị cáo Trần Văn N phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[8]. Bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy đinh của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. T1 bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “ Đánh bạc”

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 điều 248, điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46, điều 45; điều 33 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn N 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2017.

3. Về vật chứng: Áp dụng điều 41 Bộ luât hình sự, điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 bát đĩa bằng sứ màu trắng đã vỡ, 04 quân bài vị. Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng) trên chiếu bạc củabị cáo Nghĩa, anhBùi Trung K, anh Tô Xuân T, anh Kim Văn V, anh Nguyễn Văn T1, anh Trần Văn T2 và anh Trần Văn T3 đã dùng vào việc đánh bạc.

Trả lại anh Anh Tô Xuân T, sinh năm 1990; Địa chỉ: thôn Đ1, xã T, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Trả lại anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 770.000 đồng (Bảy trăm bảy mươi nghìn đồng).

Trả lại anh Kim Văn V, sinh năm 1981; địa chỉ tại: Thôn H, xã N, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Chấp nhận cơ quan điều tra lại cho bị cáo Trần Văn N 01 điện T di động NOKIA màu vàng. Trả cho anh Trần Văn T2 01 điện T di động NOKIA đen trắng. Trả cho anh Tô Xuân T 01 điện Tiphone 6 p lus màu xám;Trả cho anh Nguyễn Văn T1 01 điện T di động 1280 trắng đen, Trả cho anh Kim Văn V 01 điện T di động mobile màu xanh. Trả cho anh Trần Văn T3 01 điện Tiphone 5 S màu trắng. Trả cho anh Vũ Ngọc A 01 điện T di động sam sung màu xám.

(Toàn bộ số vật chứng trên Cơ quan điều tra đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình có đặc điểm mô tả như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/9/2017).

4. Về án phí: Áp dụng điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh A, anh K, anh V, anh T, anh T1, anh T2, anh T3 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


172
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2017/HSST ngày 18/10/2017 về tội đánh bạc

Số hiệu:64/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tiền Hải - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/10/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về