Bản án 38/2018/HNGĐ-ST ngày 10/09/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N C, TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 38/2018/HNGĐ-ST NGÀY 10/09/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 10 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2018/TLST-HNGĐ ngày 02/5/2018 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2018/QĐXX-ST ngày 24/8/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 (Có mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Viết L, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn T T, xã V H, huyện N C, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/4/2018 và trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Viết L về chung sống với nhau hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 12/11/2010 tại UBND xã V T huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được hai năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do đầu năm 2013 anh L đi làm trong Nam, nhưng không gửi tiền về cho chị nuôi con, không quan tâm gì đến chị. Chị thấy tình cảm anh L lạnh nhạt dần đối với chị. Năm 2016 chị phát hiện anh L nghiện ma túy, đã nhiều lần đưa anh đi cai nghiện, khuyên nhủ nhiều nhưng anh Lượng vẫn không từ bỏ được mà còn hành hung, đánh chị. Đầu năm 2017 chị và anh L sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình đã quá trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.

Về con chung: Chị và anh L có 01 con chung là Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 19/7/2011. Hiện nay con đang ở với chị, khi ly hôn chị xin được nuôi con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng.

Về tài sản và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án TAND huyện N C tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh L, nhưng anh L vắng mặt tại nơi cư trú. Tòa án đã giao cho bà Nguyễn Thị H (mẹ đẻ anh L) đồng thời tiến hành niêm yết công khai hợp lệ các văn bản tố tụng tại UBND xã V H, huyện N C. Quá thời hạn niêm yết anh L không nộp văn bản nêu ý kiến của mình, cũng không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập. Vì vậy, Tòa án phải tiến hành các biện pháp xác minh thu thập chứng cứ.

Tại biên bản xác minh ngày 15/6/2018 bà Nguyễn Thị H (mẹ đẻ anh L) trình bày: Về tình trạng hôn nhân anh L chơi bời, không chăm lo cho vợ con, còn việc anh L có nghiện ma túy không thì bà không biết. Anh L và chị H có 01 con chung, hiện nay cháu đang ở với chị H. Anh L và chị H ở chung với bà nhưng không làm phát sinh tài sản chung gì với gia đình bà. Hiện nay anh L đang đi làm ăn trong miền Nam, thỉnh thoảng có gọi điện thoại về cho bà nhưng không nói địa chỉ hiện nay đang ở đâu. Anh L biết rất rõ nội dung chị H xin ly hôn, nhưng vì công việc nên không thể về Tòa án để làm việc. Bà có trách nhiệm thông báo cho anh L được biết Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, và khuyên anh L đến Tòa án để làm việc.

Tại biên bản xác minh ngày 18/7/2018ông Lường Khắc C - Trưởng Công an xã trình bày: Chị H và anh L đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T Th, xã V H. Hiện nay anh L không có mặt tại địa phương, anh L không xin tạm vắng nên Ban công an xã không biết anh L ở đâu. Anh L là đối tượng nghiện ma túy và đang trong danh sách theo dõi của Công an xã.

Tại phiên tòa xét xử công khai hôm nay anh L vắng mặt, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn và nuôi con.

Đại diện VKS phát biểu quan điểm:

Về Tố tụng: Quá trình thiết lập hồ sơ vụ án Thẩm phán, HĐXX đã thực hiện đúng theo quy định tại điều 48,49 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại điều 70,71, bộ luật TTDS. Bị đơn chưa thực hiện đúng về quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Căn cứ Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 điều 227; khoản 4 Điều 147, điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015. Nghị quyết 05/2012/NQ - HĐTP TANDTC ngày 03/12/2012 và Nghị quyết 04/2017/NQ - HĐTP TANDTC ngày 05/5/2017. Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX: Chấp nhận chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Viết L. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Hồng Ng, sinh ngày 19/7/2011 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Phần cấp dưỡng nuôi con chị Hiền không yêu cầu. Về tài sản và công nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị H phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Kiến nghị khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

{ 1} Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện N C thụ lý và giải quyết vụ án ly hôn của chị H và anh L là đúng quy định về thẩm quyền xét xử theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của anh L: Quá trình giải quyết anh L không có mặt tại nơi đăng ký nhân khẩu thường trú. Hiện tại anh L đang làm ăn tại miền Nam nhưng địa chỉ ở đâu thì không cho nguyên đơn và gia đình biết địa chỉ cụ thể. Toà án đã giao các văn bản tố tụng cho mẹ đẻ của anh L để họ giao cho anh L. Đồng thời, niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định. Bà H mẹ đẻ anh L đã thông báo cho anh L biết việc Tòa án đang tiến hành giải quyết vụ án ly hôn giữa chị Hiền và anh. Anh L đã biết việc Toà án đang giải quyết việc ly hôn của mình, nhưng vẫn không về và cũng cố tình không cung cấp địa chỉ nơi ở và làm việc hiện nay cho Toà án. Như vậy, đây thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện. Căn cứ khoản 6 điều 9 Nghị quyết 05/2012/NQ - HĐTP TANDTC ngày 03/12/2012 và điểm a khoản 2 điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ - HĐTP TANDTC ngày 05/5/2017 Toà án tiến hành giải quyết theo thủ tục chung.

{2} Về nội dung:

Về Hôn nhân: Chị H và anh L xây dựng hạnh phúc trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi, đăng ký kết hôn. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống chung anh L không chăm lo và quan tâm gì đến vợ con và nghiện ma túy. Chị H góp ý anh Lượng không sửa đổi còn đánh đập chị. Từ nguyên nhân trên dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc. Hai bên sống ly thân từ đầu năm 2017 đến nay và không quan tâm đến nhau. Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, phải dựa trên cơ sở tình cảm, sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Anh L không thực hiện tròn nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn phận của mình nên để xảy ra mâu thuẫn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức độ trầm trọng, kéo dài. Hai bên không còn quan tâm đến nhau. Anh L không muốn về Toà án để hoà giải đoàn tụ, điều đó chứng tỏ không tha thiết về cuộc sống chung với chị H. Vì vậy căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cho hai bên ly hôn là phù hợp.

Về con chung: Chị H và anh L có 01 con chung Nguyễn Thị Hồng Ng, sinh ngày 19/7/2011. Hiện tại cháu Ng đang ở với chị H. Khi ly hôn chị xin được nuôi con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng. Anh Lượng không về Tòa án giải quyết ly hôn, nên giao cho chị H nuôi con và ghi nhận không yêu cầu cấp dưỡng của chị H là phù hợp.

Về tài sản và công nợ chung: Chị H trình bày vợ chồng không có tài sản và công nợ chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị H làm đơn yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 điều 227; khoản 4 Điều 147, điều 271, khoản 1 điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015; Khoản 6 điều 9 Nghị quyết 05/2012/NQ - HĐTP TANDTC ngày 03/12/2012; điểm a khoản 2 điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ - HĐTP TANDTC ngày 05/5/2017. Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Tiểu mục 1.1, mục 1 phần II của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị Quyết.

- Tuyên xử:

Về Hôn nhân: Chấp nhận chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Viết L.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Hồng Ng, sinh ngày 19/7/2011cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chị H không yêu cầu.

Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về tài sản và công nợ chung: Không có tài sản và công nợ chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ( Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống, theo biên lai thu số AA/2015/0006632 ngày 02/5/2018. Chấp nhận chị H đã nộp đủ tiền án phí DSST.

Quyền kháng cáo: Tuyên quyền kháng cáo bản án cho chị H trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với anh L thời hạn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai


95
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về