Bản án 38/2018/DS-ST ngày 22/10/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 38/2018/DS-ST NGÀY 22/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 22 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 57/2018/TLST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2018/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 8 năm 2018; quyết định hoãn phiên tòa số 38/2018/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2018; quyết định hoãn phiên tòa số 49/2018/QĐST-DS ngày 21 tháng 9 năm 2018; thông báo dời ngày xét xử vụ án lập ngày 05 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S Địa chỉ: Số 266-268 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông H – Chức vụ: Phó phòng Phòng kiểm soát rủi ro Ngân hàng TMCP S - chi nhánh Ninh Hòa; địa chỉ: 268 Nguyễn Thị Ngọc Oanh, tổ dân phố 5, phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa (Văn bản ủy quyền số 409/2018/GUQ-CNNH ngày 15/10/2018); có mặt.

2. Bị đơn: Ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B;

Nơi cư trú: Thôn 1, xã Ninh Thượng, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; ông S, bà B vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Trương Quang T; bà Trương Thị L, ông Trương Quang V, bà Trương Thị Chung L;

Nơi cư trú: Thôn 1, xã Ninh Thượng, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; tất cả vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cũng như tranh tụng tại phiên tòa hôm nay của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thể hiện:

Ngày 10/8/2015, ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B ký Hợp đồng tín dụng số: 01/LD1522200035 với Ngân hàng TMCP S - Phòng giao dịch Ninh Hòa (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) vay số tiền 150.000.000 đồng; thời hạn vay 12 tháng; mục đích vay để bổ sung vốn mua đất trồng mía; lãi suất 1,15%/tháng.

Tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay nêu trên theo Hợp đồng thế chấp số: 980/HĐTC15 lập ngày 10/8/2015 là Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 214, tờ bản đồ số 19, diện tích 1120m2 được Ủy ban nhân dân huyện Ninh Hòa (Nay là thị xã Ninh Hòa) cấp giấy chứng nhận có số vào sổ cấp GCN: CH00683 ngày 23 tháng 5 năm 1998 cho hộ ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B.

Đến hạn trả nợ, ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ yêu cầu ông S, bà B thanh toán nợ tuy nhiên ông, bà vẫn không thực hiện. Do ông S, bà B vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên toàn bộ dư nợ chuyển sang nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 23/7/2018, ông S, bà B còn nợ Ngân hàng số tiền: 202.612.500 đồng; trong đó nợ gốc: 150.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 35.075.000 đồng; nợ lãi quá hạn: 17.537.000 đồng. Nay, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông S, bà B phải thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng.

Ngoài ra, ông S, bà B còn phải trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trong trường hợp ông S, bà B không trả được nợ, đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo quy định của pháp luật để đảm bảo việc thu hồi nợ.

Trong quá trình ải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn: ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Quang T, bà Trương Thị L, ông Trương Quang V, bà Trương Thị Chung L nhưng các ông bà có tên trên cố tình trốn tránh, không có mặt nên không có bản tự khai và không tiến hành hòa giải được thgieo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp cho Hội đồng xét xử Bảng kê chi tiết nợ gốc và lãi tính đến thời điểm xét xử (ngày 22/10/2018) mà ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B nợ Ngân hàng, cụ thể: Tổng số tiền nợ là 218.223.750 đồng; trong đó tiền nợ gốc: 150.000.000 đồng, tiền nợ lãi: 45.482.500 đồng, tiền nợ lãi quá hạn: 22.741.250 đồng và đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ vừa nêu.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tại phiên tòa sơ thẩm:

+ Về chấp hành pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã chấp hành đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa nhận thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến thời điểm xét xử (ngày 22/10/2018) là 218.223.750 đồng; trong đó tiền nợ gốc: 150.000.000 đồng, tiền nợ lãi: 45.482.500 đồng, tiền nợ lãi quá hạn: 22.741.250 đồng cho Ngân hàng TMCP S theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trong trường hợp ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn: ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Quang T, bà Trương Thị L, ông Trương Quang V, bà Trương Thị Chung L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B ký Hợp đồng tín dụng số: 01/LD1522200035 ngày 10/8/2015 với Ngân hàng TMCP S - Phòng giao dịch Ninh Hòa với tư cách cá nhân; mục đích vay để bổ sung vốn mua đất trồng mía; ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B đều có nơi cư trú tại: Thôn 1, xã Ninh Thượng, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Vì vậy, khi xảy ra vi phạm thuộc tranh chấp dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung tranh chấp: Hợp đồng tín dụng số: 01/LD1522200035 ngày 10/8/2015 giữa Ngân hàng TMCP S – Phòng giao dịch Ninh Hòa với ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B để vay số tiền: 150.000.000 đồng; thời hạn vay 12 tháng; mục đích vay để bổ sung vốn mua đất trồng mía; lãi suất 1,15%/tháng. Quá trình thực hiện hợp đồng ông S, bà B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi như đã cam kết, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ yêu cầu ông S, bà B thanh toán nợ tuy nhiên ông bà vẫn không thực hiện. Khoản vay nêu trên của ông S, bà B đã chuyển sang nợ quá hạn. Nay, Ngân hàng yêu cầu ông S, bà B phải thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 22/10/2018 là 218.223.750 đồng; trong đó tiền nợ gốc: 150.000.000 đồng, tiền nợ lãi: 45.482.500 đồng, tiền nợ lãi quá hạn: 22.741.250 đồng.

Vic ông S, bà B kéo dài thời gian trả nợ cho Ngân hàng đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận. Buộc ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền: 218.223.750 đồng (Hai trăm mười tám triệu hai trăm hai mươi ba ngàn bảy trăm năm mươi đồng) ngay một lần, khi án có hiệu lực pháp luật.

[4] Về tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho khoản nợ vay theo Hợp đồng tín dụng nêu trên, giữa Ngân hàng với hộ ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B, Ông Trương Quang T, bà Trương Thị L, ông Trương Quang V, bà Trương Thị Chung L đã ký Hợp đồng thế chấp số: 980/HĐTC15 lập ngày 10/8/2015 thế chấp Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 214, tờ bản đồ số 19, diện tích 1120m2 được Ủy ban nhân dân huyện Ninh Hòa (Nay là thị xã Ninh Hòa) cấp giấy chứng nhận có số vào sổ cấp GCN: CH00683 ngày 23 tháng 5 năm 1998 cho hộ ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B.

Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đã được công chứng và được đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng trình tự pháp luật. Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản đảm bảo để đảm bảo việc thu hồi nợ của Ngân hàng khi ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B không thanh toán được khoản nợ đã cam kết.

Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ lập ngày 05/7/2018 thì hiện trạng tài sản thế chấp không có gì thay đổi so với thời điểm thế chấp.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản đảm bảo để đảm bảo việc thu hồi nợ của Ngân hàng là có cơ sở nên cần chấp nhận.

[5] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[6] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 26; khoản 2 Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 264; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 302; Điều 342; Điều 343; Điều 344; Điều 355; Điều 471; Điều 474; Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Điều 9; Điều 10, Điều 12 Nghị định số: 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm bảo; Điều 13 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 163/2006/NĐ-CP;

Căn cứ khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1.1. Buộc ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/10/2018) là 218.223.750 đồng (Hai trăm mười tám triệu hai trăm hai mươi ba ngàn bảy trăm năm mươi đồng); trong đó tiền nợ gốc: 150.000.000 đồng, tiền nợ lãi: 45.482.500 đồng, tiền nợ lãi quá hạn: 22.741.250 đồng, trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B còn phải phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số: 01/LD1522200035 ngày 10/8/2015 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.

1.2. Trong trường hợp ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B không thanh toán số nợ trên thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên bán đấu giá tài sản thế chấp theo theo Hợp đồng thế chấp số: 980/HĐTC15 lập ngày 10/8/2015 là Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 214, tờ bản đồ số 19, diện tích 1120m2 được Ủy ban nhân dân huyện Ninh Hòa (Nay là thị xã Ninh Hòa) cấp giấy chứng nhận có số vào sổ cấp GCN: CH00683 ngày 23 tháng 5 năm 1998 cho hộ ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B để thu hồi nợ.

Trong trường hợp việc bán đấu giá tài sản thế chấp không đủ để trả nợ thì ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B phải tiếp tục thanh toán các khoản nợ cho đến khi trả xong.

1.3. Ngân hàng TMCP S phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCN: CH00683 ngày 23 tháng 5 năm 1998 cho hộ ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B khi ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán.

2. Về án phí: Ông Trương Quang S, bà Hồ Thị B phải chịu 10.911.187 đồng (Mười triệu chín trăm mười một ngàn một trăm tám mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 5.065.000đ (Năm triệu không trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2016/0003845 ngày 16 tháng 4 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa.

Quy định chung: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

199
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 38/2018/DS-ST ngày 22/10/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:38/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Ninh Hòa - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 22/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về