Bản án 378/2019/HSST ngày 09/11/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 378/2019/HSST NGÀY 09/11/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 09 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 322/2019/HSST ngày 20 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 375/2019/HSST-QĐ ngày 18/10/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2019/HSST-QĐ ngày 02/11/2019 đối với các bị cáo:

1. Lê Anh T1, sinh năm 1984 tại tỉnh Th; thường trú: Thôn Ng, xã M, huyện Ng, tỉnh Th; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Minh T, sinh năm 1954 và con bà Trịnh Thị H, sinh năm 1954, có vợ tên Lăng Thị T, sinh năm 1989 và có 02 con sinh năm 2009 và năm 2012; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2019 đến ngày 24/4/2019 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt

2. Bùi Xuân T2, sinh năm 1950 tại tỉnh Th; thường trú: 277 khu phố 1A, phường A, thị xã Th, tỉnh B; tạm trú: 574/13C khu phố T, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Bùi Xuân Th (đã chết) và con bà Hà Thị T (đã chết); có vợ Hoàng Thị V, sinh năm 1950 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1976 và con nhỏ nhất sinh năm 1987; tiền án, tiền sự: Không có. Bị tạm giữ ngày 15/4/2019 sau đó được hủy bỏ biện pháp tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt

3. Âu Văn Ch1, sinh năm 1980 tại tỉnh T; thường trú: Thôn Kh, xã Đ, Thành phố T, tỉnh T; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Cao Lan; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Âu Văn Ngh, sinh năm 1933 và con bà Trần Thị Tr, sinh năm 1934, bị cáo có vợ tên Vi Thị Đ, sinh năm 1971; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2019 đến ngày 24/4/2019 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ.

Nhân thân:

+ Ngày 01/11/2005 Công an huyện Y, tỉnh T xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc

+ Ngày 30/6/2012 Công an huyện Y, tỉnh T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc

+ Ngày 23/10/2019, Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh B xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc, theo bản án số 336 (bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương).

4. Tạ Văn Ch2, sinh năm 1986 tại tỉnh Bắc Giang; thường trú: Thôn Ngò, xã Song Vân, huyện T2 Yên, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Tạ Văn Chiến (đã chết) và con bà Trần Thị Nụ, sinh năm 1960; có vợ Nguyễn Thị Thảo, sinh năm 1987 và có 02 con sinh năm 2007 và năm 2011; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2019 đến ngày 18/4/2019 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt

5. Phạm Xuân T3, sinh năm 1986 tại tỉnh Th; thường trú: Thôn B, xã Th, huyện Ng, tỉnh Th; tạm trú: 52F/13 khu phố B, phường B, thị xã Th, tỉnh B; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Xuân D, sinh năm 1958 và con Doãn Thị Th, sinh năm 1960, bị cáo có vợ Phạm Thị G, sinh năm 1989 và có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2019 đến ngày 24/4/2019 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt

6. Nguyễn Thành Tr1, sinh năm 1982 tại tỉnh B; thường trú: Tổ 5 khu phố B, phường S, thị xã Ph, tỉnh B; tạm trú: 4/5 khu phố T, phường T, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Lái xe ; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1952 và con bà Đào Thị H, sinh năm 1955, bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh năm 1989 và có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2019 đến ngày 24/4/2019 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt

7. Nguyễn Mạnh D1, sinh năm 1984 tại tỉnh N; thường trú: Tổ 4 khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh B; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1960 và con bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1964, bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Kim Q, sinh năm 1986 và có 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Ngày 30/12/2016, Tòa án nhân dân thị xã T2, tỉnh B xử phạt 4 tháng 25 ngày tù về tội Đánh bạc, theo bản án số 172. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2019 đến ngày 24/4/2019 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt

8. Lê Văn D2, sinh năm 1971 tại tỉnh V; thường trú: Thôn X, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Ph; tạm trú: 227/8 đường L, khu phố T, phường T, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn T và con bà Hoàng Thị Tr, bị cáo có vợ tên Phan Thị Đ, sinh năm 1975 và 01 con sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2019 đến ngày 24/4/2019 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt

9. Lê Thị Th2, sinh năm 1992 tại tỉnh Th; địa chỉ: Đường D1, khu phố 2, phường A, thị xã Th, tỉnh B; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn D2, sinh năm 1973 và con bà Lê Thị A, sinh năm 1973, bị cáo có chồng tên Bùi Vũ L, sinh năm 1991 và có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2019 đến ngày 18/4/2019 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt Người chứng kiến: Chị Đỗ Thị Minh H, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 30 ngày 15/04/2019, các bị cáo Lê Văn T1, Phạm Xuân T3, Lê Văn D2, Âu Văn Ch1 đến nhà bị cáo Bùi Xuân T2 địa chỉ 574/13 C, khu phố T, phường T, thị xã D, tỉnh Bi. Tại đây bị cáo T1 rủ cả nhóm chơi đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa thắng thua bằng tiền mỗi ván từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng, bị cáo T1 nói với bị cáo T2 “cho cả nhóm chơi đánh bạc sẽ cho tiền xâu mỗi người 100.000 đồng/giờ”. Sau đó T1 lấy 01 cái chén (bát) và 01 cái đĩa trong bếp nhà T2, bị cáo Ch1 dùng kéo cắt 04 con vị từ 01 bộ bài tây 52 lá.

Cách thức chơi lấy 04 con vị bỏ vào chén, úp lên đĩa sau đó nhà cái lắc, các nhà còn lại sẽ đặt tiền theo hình thức chẵn, lẽ, khi nhà cái mở ra xác định ai thắng thua tương ứng với đặt chẵn lẽ để chung chi. Tất cả chơi đến khoảng 15 giờ cùng ngày có bị cáo Lê Thị Th2, Nguyễn Mạnh D1, Tạ Văn Ch2, Nguyễn Thành Tr1 và người tên S (không rõ nhân thân) đến cùng chơi, chơi được một lúc S nghỉ về trước. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày Công an phường T, thị xã D, tỉnh B kiểm tra lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với các bị cáo. Vật chứng thu giữ: 27.200.000 đồng thu trên chiếu bạc; thu trong túi của các bị cáo 45.450.000 đồng; 01 bộ xóc đĩa gồm 01 chén (bát), 01 đĩa, 04 con vị hình tròn cắt ra từ bộ bài tây 52 lá.

Số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc.

- Lê Văn D2 mang theo 4.500.000 đồng, sử dụng 4.500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt D2 thắng 2.300.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.600.000 đồng, khi đánh bạc D2 cho bị cáo T2 tiền xâu 02 lần là 200.000 đồng.

- Lê Anh T1 mang theo 1.600.000 đồng, mượn thêm 1.000.000 đồng từ bị cáo T2 để chơi, khi bị bắt T1 thua 1.000.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 1.100.000 đồng, thu giữ trong người số tiền 400.000 đồng, khi đánh bạc T1 cho bị cáo T2 100.000 đồng tiền xâu. Trong khi chơi bị cáo T1 thu tiền xâu của cả nhóm đưa cho bị cáo T2 2 lần với số tiền 1.000.000 đồng.

- Âu Văn Ch1 mang theo và sử dụng 2.300.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt Ch1 thắng 100.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 300.000 đồng, thu giữ trong người số tiền 2.000.000 đồng, khi chơi đánh bạc Ch1 xâu cho bị cáo T2 số tiền 100.000 đồng.

- Tạ Văn Ch2 mang theo 8.700.000 đồng, sử dụng 700.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt Ch2 thắng 3.650.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 200.000 đồng, thu giữ trong người số tiền 12.050.000 đồng. Khi chơi Ch2 xâu cho T2 số tiền 100.000 đồng.

- Phạm Xuân T3 mang theo 14.500.000 đồng, sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt T3 không thắng, không thua thu giữ trên chiếu bạc số tiền 3.000.000 đồng, thu giữ trong người số tiền 11.300.000 đồng. Khi chơi T3xâu cho T2 số tiền 200.000 đồng.

- Nguyễn Thành Tr1 mang theo và sử dụng 1.000.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt Tr1 thua 100.000 đồng, thu giữ trong người số tiền 800.000 đồng, khi chơi Tr1 xâu cho T2 số tiền 100.000 đồng.

- Lê Thị Th2 mang theo 19.000.000 đồng, sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt Th2 thắng 100.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 100.000 đồng, thu giữ trong người số tiền 18.900.000 đồng. Khi chơi Th2 xâu cho T2 số tiền 100.000 đồng.

- Nguyễn Mạnh D1 mang theo và sử dụng 1.300.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt D1 thua 1.300.000 đồng.

- Bùi Xuân T2 thu được 1.000.000 đồng tiền xâu, bị cáo T2 cho bị cáo T1 mượn 1.000.000 đồng để đánh bạc.

Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc 35.350.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 336/CT-VKS ngày 17 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Lê Anh T1, Bùi Xuân T2, Âu Văn Ch1, Tạ Văn Ch2, Phạm Xuân T3, Nguyễn Thành Tr1, Nguyễn Mạnh D1, Lê Văn D2, Lê Thị Th2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Quan điểm:

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Anh T1 từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Xuân T2 từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Âu Văn Ch1 từ 09 đến 12 tháng tù.

Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tạ Văn Ch2 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Xuân T3từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Tr1 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh D1 từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn D2 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị Th2 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 bộ xóc đĩa gồm 01 chén (bát), 01 đĩa, 04 con vị hình tròn cắt ra từ bộ bài tây 52 lá. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 35.350.000 đồng Các bị cáo không tranh luận đối với Đại diện Viện kiểm sát, không bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án các bị cáo nói lời sau cùng:

Lê Anh T1: Biết việc mình làm là sai, xin giảm nhẹ mức tiền phạt.

Bùi Xuân T2: Biết việc mình làm là sai, hiện bị cáo bị bệnh, tuổi cao, vợ chồng không có thu nhập, xin giảm nhẹ mức phạt tiền.

Âu Văn Ch1: Xin giảm nhẹ mức phạt tù, bị cáo biết việc mình làm là sai.

Tạ Văn Ch2: Biết việc mình làm là vi phạm pháp luật, xin giảm nhẹ mức phạt tiền.

Phạm Xuân T3: Biết việc mình làm là vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ mức phạt tiền.

Nguyễn Thành Tr1: Xin giảm nhẹ mức phạt tiền. Nguyễn Mạnh D1: Biết việc mình làm là sai, xin giảm nhẹ mức phạt tiền. Lê Văn D2: Xin giảm nhẹ mức phạt tiền.

Lê Thị Th2: Xin được giảm nhẹ mức phạt tiền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Chứng cứ xác định có tội của các bị cáo: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15/4/2019, lời khai người làm chứng, biên bản ghi lời khai các bị cáo, quá trình tranh tụng tại phiên tòa thể hiện. Ngày 15/04/2019, tại nhà bị cáo Bùi Xuân T2 địa chỉ 574/13 C, khu phố T, phường T, thị xã D, tỉnh Bi, Lê Văn T1, Âu Văn Ch1, Tạ Văn Ch2, Phạm Xuân T3, Nguyễn Thành Tr1, Nguyễn Mạnh D1, Lê Văn D2, Lê Thị Th2 cùng với người tên S (không rõ nhân thân) đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa thắng thua bằng tiền mỗi ván từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng, trước khi chơi các bị cáo thỏa thuận mỗi người cho bị cáo T2 tiền xâu 100.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc 35.350.000 đồng. Như vậy, hành vi trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 336/CT-VKS ngày 17/9/2019 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo cũng như trình bày luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo T1, T2, Ch2, T3, Tr1, Mạnh D1, Văn D2, Th2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết trên được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo T1, T2, Ch2, T3, Tr1, Văn Dũng, Th2 có nhân thân tốt thể hiện không có tiền án tiền sự, các bị cáo nhất thời phạm tội Bị cáo Nguyễn Mạnh D1 có nhân thân xấu thể hiện ngày 30/12/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh B xử phạt 4 tháng 25 ngày tù về tội Đánh bạc, mặc dù bị cáo được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo thể hiện sự không hướng thiện của bản thân cũng như việc chấp hành pháp luật.

Bị cáo Âu Văn Ch1 có nhân thân xấu thể hiện việc bị cáo nhiều lần bị xử phạt hành Ch2 về hành vi Đánh bạc, trong thời gian tại ngoại điều tra về hành vi Đánh bạc bị cáo lại tiếp tục phạm tội đánh bạc, thể hiện sự không hướng thiện của bản thân cũng như việc chấp hành pháp luật.

[2] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 03 năm tù, các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn trật tự công cộng tại địa phương. Đánh bạc được xem là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm hình sự khác. Do vậy, hành vi trên của các bị cáo phải được xét xử nghiêm mới có tác dụng răn đe phòng ngừa chung.

[3] Trong vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo T1, T2, Ch1, Ch2, T3, Tr1, Mạnh D1, Văn D2, Th2 là người trực tiếp tham gia đánh bạc, bị cáo Bùi Xuân T2 tuy không tham gia thực hiện việc đánh bạc thắng thua bằng tiền nhưng bị cáo cho các bị cáo đánh bạc tại nơi bị cáo sinh sống để lấy tiền xâu, khi có tiền xâu bị cáo cho bị cáo T1 mượn 1.000.000 đồng để T1 đánh bạc do vậy cũng phải chịu trách nhiệm hình sự hành vi của mình, tất cả các bị cáo tham gia với vai trò người thực hành.

[4] Xét, bị cáo T1, T2, Ch2, T3, Tr1, Nguyễn Mạnh D1, Lê Văn D2, Lê Thị Th2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng mức phạt tiền đối với các bị cáo cũng có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng xem xét về nhân thân, số tiền cụ thể từng bị cáo tham gia đánh bạc để có mức phạt tiền phù hợp.

Đối với bị cáo Âu Văn Ch1 cần xử phạt hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo tự cải tạo, r n luyện giáo dục bản thân sau này không vi phạm nữa.

[5] Trong vụ án còn có người tên S không r nhân thân cùng tham gia đánh bạc. Tuy nhiên không xác định được nhân thân của S, Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tách xác minh xử lý sau là phù hợp.

[6] Đối với vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ 01 bộ xóc đĩa gồm 01 chén (bát), 01 đĩa, 04 con vị hình tròn cắt ra từ bộ bài tây 52 lá. Vật chứng sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 35.350.000 đồng các bị cáo sử dụng đánh bạc, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức hình phạt đối với các bị cáo Lê Anh T1, Phạm Xuân T3, Nguyễn Mạnh D1, Lê Văn D2 phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận. Đối với mức hình phạt bị cáo Bùi Xuân T2, Âu Văn Ch1, Tạ Văn Ch2, Nguyễn Thành Tr1, Lê Thị Th2 có phần nghiêm khắc, Hội đồng xét xử xử mức hình phạt các bị cáo thấp hơn so với mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

 1. Tuyên bố các bị cáo Lê Anh T1, Bùi Xuân T2, Âu Văn Ch1, Tạ Văn Ch2, Phạm Xuân T3, Nguyễn Thành Tr1, Nguyễn Mạnh D1, Lê Văn D2, Lê Thị Th2 phạm tội Đánh bạc.

1.1 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Âu Văn Ch1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo được tính trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/4/2019 đến ngày 24/4/2019.

1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Lê Anh T1 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng) 1.3 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T2 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

1.4 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Tạ Văn Ch2 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

1.5 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T3 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng)

1.6 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Tr1 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

1.7 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh D1 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng)

1.8 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Lê Văn D2 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng)

1.9 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Lê Thị Th2 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

2. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 35.350.000 đồng (ba mươi lăm triệu, ba trăm lăm mươi nghìn đồng)

Tịch thu tiêu hủy: 01 chén (bát), 01 đĩa, 04 con vị.

Theo biên lai thu tiền số 01262, biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/9/2019.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14.

Các bị cáo Lê Anh T1, Bùi Xuân T2, Âu Văn Ch1, Tạ Văn Ch2, Phạm Xuân T3, Nguyễn Thành Tr1, Nguyễn Mạnh D1, Lê Văn D2, Lê Thị Th2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 378/2019/HSST ngày 09/11/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:378/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:09/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về