Bản án 37/2019/HSST ngày 06/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V N - TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 37/2019/HSST NGÀY 06/09/2019 VỀ TI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 06 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V N, tỉnh Khánh Hoà, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B (Tên gọi khác: Mon) - sinh năm: 1997 tại V N, Khánh Hòa; hộ khẩu thường trú: Thôn V H, xã V P, huyện V N, tỉnh Khánh Hòa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Mỹ D; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị Mỹ D sinh năm 1968.

Đa chỉ: Thôn V H, xã V P, huyện V N, tỉnh Khánh Hòa;

Bà D có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 12 giờ 00 ngày 19/6/2019 Nguyễn Văn B điều khiển xe mô tô biển số 79V1-322.08 từ nhà tại thôn V H, xã V P, huyện V N đi đến khu vực nghĩa địa Phổ Đà thuộc thôn T Đ, xã V L , huyện V N tìm mua ma túy, tại đây B gặp một người phụ nữ khoảng 30 tuổi (không rõ nhân thân lai lịch), B hỏi mua của người phụ nữ này 01 tép ma túy đá, người phụ nữ đồng ý bán với giá 800.000 đồng 01 tép. B đưa cho người phụ nữ 800.000 đồng, người phụ nữ nhận tiền và đưa cho B 01 tép ma túy đá. B cất tép ma túy này vào túi quần Jean phía trước bên phải rồi điều hiển xe mô tô đi về hướng thị trấn V G theo đường quốc lộ 1A. Khi đến đoạn đường 14/8 thị trấn V G, huyện V Nthì B bị tổ tuần tra Công an thị trấn V G đang làm nhiệm vụ tuần tra địa bàn thị trấn V G kiểm tra hành chính, lập biên bản sự việc và thu giữ của Nguyễn Văn B:

- 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, kích thước (3,5 x 2,5)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (nghi ma túy tổng hợp), niêm phong vào phong bì ký hiệu A.

- 1 xe mô tô hãn hiệu YAMAHA, kiểu dáng Exciter 150, màu đỏ đen, biển số 79V1-322.08.

Tại Kết luận giám định số: 341/GĐTP/2019 ngày 27/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận:

Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,6474g (không phẩy sáu bốn bảy bốn gam), là loại Methamphetamine. Không hoàn lại mẫu vật sau giám định.

Đi với người phụ nữ đã bán ma túy cho Nguyễn Văn B ngày 19/6/2019 tại khu nghĩa địa Phổ Đà thuộc thôn T Đ, xã V L , huyện V N hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V N sẽ tiếp tục làm rõ để xử lý.

Ti bản Cáo trạng số 45/CT-VKSVN ngày 08/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện V N, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Văn B đã khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V N, tỉnh Khánh Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn B theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

* Vật chứng vụ án:

- 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, kích thước (3,5 x 2,5)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, niêm phong vào phong bì ký hiệu A, đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, kiểu dáng Exciter 150, màu đỏ đen, biển số 79V1-322.08. Xe mô tô này là của bà Lê Thị Mỹ D (mẹ ruột B), ngày 19/6/2019, B mượn xe này để đi chơi, bà D không biết B sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy nên không có cơ sở thu giữ. Đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Lê Thị Mỹ D.

* Về dân sự: Bà Lê Thị Mỹ D đã nhận lại xe mô tô 79V1-322.08 và không còn yêu cầu gì.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như nội dung bản Cáo trạng số 45/CT-VKSVN ngày 08/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V N, tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với phù hợp với Biên bản xảy ra sự việc ngày 19/6/2019, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Như vậy, đủ cơ sở kết luận: khoảng 12 giờ 00 phút ngày 19/6/2019 tại đoạn đường 14/8 thị trấn Vạn Giã, huyện V N, Nguyễn Văn B bị tổ tuần tra Công an thị trấn V G đang làm nhiệm vụ tuần tra địa bàn thị trấn V G kiểm tra hành chính, lập biên bản xảy ra sự việc và thu giữ của Nguyễn Văn B 0,6474g (không phẩy sáu bốn bảy bốn gam) là loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì:

“1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Vì vậy, với hành vi của bị cáo Nguyễn Văn B đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy; chất ma túy rất độc hại đối với con người, nó vừa là một trong các nguyên nhân gây ra những căn bệnh chết người, vừa là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm cho đời sống xã hội;

Bị cáo biết rõ chất ma túy là chất gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, bị cáo cũng ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ trái phép 0,6474g (không phẩy sáu bốn bảy bốn gam) chất ma túy là Methamphetamine nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và ngăn ngừa chung.

Tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo yên tâm cải tạo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện V N, bị cáo B không có nghề nghiệp, không có thu thập ổn định lại không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[5] Đối với người phụ nữ (không rõ tên, địa chỉ) bán ma túy cho Nguyễn Văn B ở khu vực nghĩa địa Phổ Đà thuộc thôn T Đ, xã V L , huyện V N, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[6] Về dân sự: Bà Lê Thị Mỹ D đã nhận lại xe mô tô 79V1-322.08 và không còn yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền bị cáo phải chịu là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

* Về dân sự: Không xem xét việc bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo Nguyễn Văn B với bà Lê Thị Mỹ D

 - Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

- Quyền kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.


93
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2019/HSST ngày 06/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:37/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vạn Ninh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 06/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về