Bản án 37/2019/HS-PT ngày 16/04/2019 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 37/2019/HS-PT NGÀY 16/04/2019 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 14/2019/TLPT-HS ngày 20 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ và kháng cáo của ông Lê Văn H, người đại diện theo ủy quyền của gia đình người bị hại (ông Lê Xuân H đã chết) đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2019/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới.

Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo: Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1969, tại xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; Đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; nghề nghiệp: Đánh cá biển; con ông Nguyễn Văn G (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ Mai Thị Bích T, hiện sinh sống tại nước Cộng hoà liên bang Đức; có 03 con sinh các năm 1992, 1995, 1998; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2004 bị Công an tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính 500.000 đồng về hành vi mua dâm người chưa thành niên; bị bắt tạm giữ ngày 25 tháng 7 năm 2018 sau đó bị tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnhQuảng Bình. Có mặt.

Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Đ tại phiên toà phúc thẩm: Luật sư Ngô Đức Thịnh, Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Bà Nguyễn Thị Mỹ Á, sinh ngày 14 tháng 9 năm 1976, (vợ bị hại); Anh Lê Thanh H, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1995, (con đẻ bị hại); Chị Lê Thị Mỹ U, sinh ngày 15 tháng 01 năm 2000 (con đẻ bị hại).

Cùng trú tại Khu phố 5, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, có mặtanh Lê Thanh H, vắng mặt bà Á, chị U.

- Người đại diện theo ủy quyền của các đại diện bị hại có kháng cáo:

Ông Lê Văn H, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1964 (anh trai bị hại Lê Xuân H); cư trú tại: Thôn N, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Hồng Đ, sinh năm 1959, cư trú tại: Thôn N, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1938; cư trú tại: Thôn Đ, xã Q, thành phố Đ,tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1959; cư trú tại: Thôn Đ, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963; cư trú tại: Thôn N, xã Q, thành phố Đ,tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1967; cư trú tại: Thôn N, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

Anh Hoàng Bá Đ, sinh năm 1964; cư trú tại: Thôn Đ, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

Anh Lê Đức T, sinh năm 1977; cư trú tại: Thôn N, xã Q, thành phố Đ,tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại:

Các Luật sư Nguyễn Khắc Tuấn, Phan Văn Chiều, Văn phòng Luật sư An Phát, Đoàn luật sư tỉnh Hà Tĩnh, có địa chỉ tại 58 đường Nguyễn Du, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

- Người làm chứng:

Chị Hoàng Thị É, sinh năm 1968; cư trú tại: Tổ dân phố 8, phường B,thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt;

Bà Lê Thị N, sinh năm1957; cư trú tại: Thôn T, xã Q, thành phố Đ, tỉnhQuảng Bình. Có mặt;

Bà Đặng Thị S, sinh năm1967; cư trú tại: Thôn Đ, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt;

Anh Lê Hồng L, sinh năm 1991; cư trú tại: Thôn N, xã Q, thành phố Đ,tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Người giám định:

Các Giám định viên pháp y: Ông Phạm Ngọc T, Ông Trần Quốc K - Trung tâm Giám định Y khoa – Pháp y, Sở Y tế tỉnh Quảng Bình. Có mặt ông Phạm Ngọc T, vắng mặt ông Trần Quốc K.

Tại phiên toà vắng mặt 2 người đại diện bị hại nhưng có mặt ông Lê Văn H là người được đại diện các bị hại uỷ quyền; vắng mặt một số người được Bản án sơ thẩm xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo, người được các bị hại uỷ quyền tham gia tố tụng giải quyết vụ án, người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, Kiểm sát viên đều đề nghị xét xử vụ án. Xét thấy những người vắng mặt đều đã có lời khai tại hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án theo quy định.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 24 tháng 7 năm 2018, anh Lê Xuân H, trú ở thôn T, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình đến nhà Nguyễn Văn Đ ở thôn Đ, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình cùng uống rượu với các anh Hoàng Bá Đ, Lê Đức T, chị Hoàng Thị É và Nguyễn Văn Đ. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi uống hết 1/2 lít rượu trắng thì các anh Đ, T ra về, còn anh H không về nên Đ khuyên anh H về để nghỉ ngơi nhưng anh H không nghe. Anh H xin nước uống nên chị É rót cốc nước đưa cho anh H uống. Đ tiếp tục khuyên anh H về nhưng anh H không về và to tiếng cãi vã đòi nằm lại ở nhà Đ. Khi Đ kéo anh H dậy thì bất ngờ anh H dùng cốc thủy tinh vừa uống nước định ném vào người Đ thì bị Đ cầm được cổ tay ngăn lại và gọi chị Én đến lấy ly cất đi.

Lúc này anh H lấy chùm chìa khóa bằng kim loại của Đ để gần đó ném trúng vào vùng bụng và dùng tay tát một cái vào miệng của Đ, dẫn đến hai người giằng co, xô đẩy nhau. Đ dùng tay phải tát trúng vào vùng mũi anh H gây chảy máu mặt. Trong lúc hai người trong tư thế đứng khom ôm nhau giằng co thì Đ dùng tay phải đấm móc một cái vào vùng bụng của anh H làm anh H ngồi gục xuống nền nhà. Khi anh H ngồi dậy lấy áo phông của mình lau máu trên mặt thì Đ dùng hai tay cầm tay trái của anh H kéo chà anh H ra ngoài hiên nhà, do Đ bị trượt chân ở tam cấp nên cả Đ và anh H đều ngã xuống bậc lên xuống, Đ vùng dậy tiếp tục kéo anh H ra ngoài cổng rồi đóng cổng lại vào nhà đóng cửa nhà và tắt điện sáng. Khoảng 19 giờ 30 phút, cùng ngày bà Đặng Thị S là người cùng thôn đi ngang qua thấy anh H ngồi xổm trước cổng nhà Đ và đang lau máu trên mặt nên chạy đến nhà bà Lê Thị N (chị gái anh H) gần đó kể lại sự việc. Bà N đến trước cổng nhà Đ thấy anh H đang nằm bất tỉnh trước cổng nên gọi Đ nói “chú Đ ơi răng mà đập em tôi rứa mà không đem đi viện” rồi cùng mọi người gọi taxi đưa anh H đi cấp cứu tại bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới, khoảng 22 giờ cùng ngày thì anh H tử vong. Sau khi gây án Đ lấy xe máy chạy lên khu vực phường Bắc Lý, thành phố Đồng Hới trốn, sau đó Đ liên hệ với chị É rồi cùng nhau tự giác về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Q trình diện.

Tại Bản Kết luận giám định Pháp y về thương tích số 152/TgT ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Trung tâm giám định Y khoa – Pháp y Sở y tế tỉnh Quảng Bình kết luận dấu hiệu chính qua giám định: Cuống gan có đám bầm tụ máu kích thước 12 x 10 cm, rách tĩnh mạch cửa; nhu mô thận phải có vết rách kích thước 2,6 x 0,3cm, xung quanh vết rách bầm tụ máu; khoang bụng có 3000ml máu cục và máu lỏng. Nguyên nhân tử vong do sốc mất máu cấp.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình người bị hại yêu cầu bồi thường 228.210.000 đồng, gia đình bị cáo đã bồi thường 30.000.000 đồng.

Cáo trạng số 68/CT-VKSĐH-TA ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2019/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; các điểm b, p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 48, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 các Điều 135, 136, Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 năm 06 tháng tù (sáu năm sáu tháng tù) về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạttù tính từ ngày 25 tháng 7 năm 2018.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải bồi thường 125.000.000 đồng cho người đại diện gia đình bị hại, trong đó bồi thường chongười đại diện theo uỷ quyền ông Lê Văn H số tiền 55.500.000 đồng là khoảntiền chi phí lo cứu chữa, mai táng bị hại; tiền bù đắp tổn thất tinh thần đối với các người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại Lê Xuân H (gồm bà Nguyễn Thị Mỹ Á, anh Lê Thanh H, chị Lê Thị Mỹ U) tổng cộng là 50 tháng lương cơ sở x 1.390.000 đồng/tháng = 69.500.000 đồng nhưng gia đình bị cáo đã bồi thường trước 30.000.000 đồng, nay buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho ông Lê Văn H 25.000.000 đồng; bồi thường tiếp cho bà Nguyễn Thị Mỹ Á, anh Lê Thanh H, chị Lê Thị Mỹ U tổng cộng là 50 tháng lương cơ sở x 1.390.000 đồng/tháng = 69.500.000 đồng.

Tuyên buộc bị cáo phải chịu lãi suất khi chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, tuyên hướng dẫn việc thi hành án;

Tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, chịu án phí dân sự sơ thẩm; tuyên quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm đối với bị cáo, đại diện bị hại, người được các đại diện bị hại uỷ quyền; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định.

Trong hạn luật định, ngày 17 tháng 01 năm 2019 ông Lê Văn H, người được các đại diện bị hại uỷ quyền tham gia tố tụng giải quyết vụ án có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm cho rằng Bản án sơ thẩm xử phạt Nguyễn Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, buộc bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại hơn 125.000.000 đồng là không đúng tội danh, không đánh giá đúng động cơ, mục đích và tính chất mức độ hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Đ. Yêu cầu xét xử phúc thẩm vụ án theo đúng quy định của pháp luật, đề nghị xét xử Nguyễn Văn Đ về tội “Giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo bồi thường đủ thiệt hại cho gia đình bị hại theo quy định của pháp luật.

Ngày 23 tháng 01 năm 2019 bị cáo Nguyễn Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 20 tháng 3 năm 2019, ông Nguyễn Hồng Đ nộp 20.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới bồi thường cho gia đình bị hại.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn Đ khai và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng truy tố và xét xử của Bản án sơ thẩm, rút kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Ông Lê Văn H, người được các đại diện bị hại uỷ quyền tham gia tố tụng giải quyết vụ án giữ nguyên kháng cáo, đề nghị xét xử Nguyễn Văn Đ về tội “Giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo bồi thường đủ thiệt hại cho gia đình bị hại theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án phát biểu quan điểm cho rằng hành vi Nguyễn Văn Đ dùng tay tát vào mặt, đấm móc vàobụng anh H làm anh H bị chảy máu ở mặt ngay tại nền nhà Nguyễn Văn Đ, khi anh H ngồi dậy lấy áo của mình lau máu trên mặt thì bị Đ dùng hai tay cầm tay trái của anh H kéo chà anh H ra ngoài hiên nhà, do Đ bị trượt chân ở bậc lên xuống nên cả Đ và anh H đều ngã xuống bậc lên xuống, Đ vùng dậy tiếp tục kéo anh H ra ngoài cổng rồi đóng cổng lại vào nhà đóng cửa nhà và tắt điện sáng. Khi người thân của anh H đến nói cho Đ biết tình trạng của H thì Đ trả lời “đến nhà uống say không chịu về thì tao đánh cho chết” đã thể hiện được ý thức chủ quan của Nguyễn Văn Đ là đánh cho bỏ tức rồi ra sao cũng được, không quan tâm hậu quả xảy ra. Theo nguyên nhân anh H chết được Cơ quan chuyên môn giám định kết luận do sốc mất máu cấp, kết quả điều tra và xét xử xác định Nguyễn Văn Đ là người đã gây ra cái chết đối với anh H. Theo ý thức chủ quan của bị cáo thả mặc người bị đánh trong khi đã thấy và biết tình trạng nguy kịch của người bị đánh nên hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Đ có đủ yếu tố cấu thành của tội “Giết người” được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm c khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 268; điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1 Điều 358, chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn H là người được các đại diện bị hại uỷ quyền tham gia tố tụng giải quyết vụ án để huỷ Bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để điều tra Nguyễn Văn Đ về tội “Giết người”.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Đ trình bày quan điểm bào chữa cho rằng bị cáo phạm tội do bức xúc khi bảo anh H về để Đ đóng cửa đi ngủ nhưng anh H không về mà còn gây sự với Đ, dùng ly uống nước bằng thuỷ tinh ném vào người Đ nhưng được Đ ôm giữ để chị É lấy lại ly từ tay Đ. Từ trước đến khi phạm tội giữa bị cáo và bị hại là láng giềng, là bạn cùng đánh cá biển với nhau, chưa có mắc mớ, mâu thuẫn gì, bị cáo đánh anh H bằng tay không, ý thức chủ quan của Nguyễn Văn Đ khi đánh anh H không cố ý tước đoạt mạng sống của anh H, bị cáo không thể thấy trước hậu quả anh H chết. Bản án sơ thẩm xử tuyên bố Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, (Cố ý gây thương tích làm chết người) là có căn cứ. Theo quan điểm đề nghị huỷ Bản án sơ thẩm để điều tra lại của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm, Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử huỷ Bản án sơ thẩm để giám định xem xét năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Văn Đ.

Các Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho người bị hại trình bày quan điểm cho rằng hành vi Nguyễn Văn Đ dùng tay tát vào mặt, đấm móc mạnh vào bụng anh H, khi thấy anh H không tự đi được ra khỏi nhà Đ thì bị Đ kéo lê anh H ra để trước cổng nhà mình thả mặc không quan tâm tình trạng sức khoẻ anh H sau khi bị đánh, khi người nhà anh H đến thấy anh H đang trong tình trạng nguy kịch có gọi báo cho Đ biết thì Đ trả lời “đến nhà tao uống say không chịu về thì tao đánh cho chết” và không có bất cứ động tỉnh gì đã thể hiện được ý thức chủ quan của Nguyễn Văn Đ là đánh cho anh H chết và hậu quả anh H đã chết do bị Đ đánh nên hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Đ có đủ yếu tố cấu thành của tội “Giết người” được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015. Khám nhiệm tử thi thấy vùng mặt anh H có nhiều vết thương, theo lời khai của bị cáo thì bị cáo chỉ tát anh H một cái vào mặt, đấm móc một cái vào bụng nhưng Kết luận giám định thể hiện anh H bị tổn thương cả gan và thận, chứng tỏ anh H bị đánh nhiều cái vào mặt mới gây ra nhiều thương tích ở vùng mặt và có nhiều lực tác động vào vùng hông và bụng mới gây tổn thương cả gan và thận, nguyên nhân anh H chết được xác định do sốc mất máu cấp từ các lực tác động này nên vụ án có dấu hiệu còn có đồng phạm khác cùng tham gia đánh anh H nhưng không được điều tra làm rõ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ Bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử Nguyễn Văn Đ về tội “Giết người” như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm, buộc Nguyễn Văn Đbồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Theo lời khai của Nguyễn Văn Đ tại phiên toà phúc thẩm thừa nhận sau khi anh H đã cùng uống rượu với Đ tại nhà Đ nhưng không chịu về để Đ đóng cửa đi ngủ mà còn gây sự thách đố Đ nên đã bị Đ dùng tay tát vào mặt, đấm mạnh vào bụng làm anh Lê Xuân H chảy máu ở mặt, gục xuống nền nhà. Khi anh H ngồi dậy lấy áo phông của mình lau máu trên mặt thì Đ dùng hai tay cầm tay trái của anh H kéo chà anh H ra ngoài hiên nhà, do Đ bị trượt chân ở bậc lên xuống nên cả Đ và anh H đều ngã xuống bậc lên xuống, Đ vùng dậy tiếp tục kéo anh H ra ngoài cổng rồi đóng cổng lại, vào nhà đóng cửa nhà và tắt điện sáng, sau đó anh H được mọi người phát hiện đưa vào cấp cứu ở Bệnh viện và tử vong, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án. Bản giám định pháp y của Cơ quan chuyên môn Kết luận “Cuống gan có đám bầm tụ máu kích thước 12 x 10 cm, rách tĩnh mạch cửa; nhu mô thận phải có vết rách kích thước 2,6 x 0,3cm, xung quanh vết rách bầm tụ máu; khoang bụng có3000ml máu cục và máu lỏng. Nguyên nhân tử vong do sốc mất máu cấp”. Hộiđồng xét xử thấy có căn cứ xác định các tổn thương gan, thận, khoang bụng có 3000ml máu cục và máu lỏng và nguyên nhân anh Lê Xuân H chết theo Kết luận giám định của Cơ quan chuyên môn là do Nguyễn Văn Đ gây ra.

[1]. Xét kháng cáo của ông Lê Văn H là người được các đại diện bị hại uỷ quyền tham gia tố tụng giải quyết vụ án đề nghị xét xử Nguyễn Văn Đ về tội “Giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo bồi thường đủ thiệt hại cho gia đình bị hại theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy:

Theo diễn biến sự việc thì anh Lê Xuân H đến nhà Nguyễn Văn Đ rượu vào lúc khoảng sau 18 giờ ngày 24 tháng 7 năm 2018, thời gian anh H bị Đ tát vào mặt, đấm mạnh vào bụng gục xuống nền nhà làm chảy máu ở mặt rồi anh H bị Đ kéo ra để mặc ở cổng nhà Đ vào lúc khoảng sau 19 giờ 00 ngày 24 tháng 7 năm 2018. Bà Đặng Thị Sáu đi qua thấy anh H đang nguy kịch trước cổng nhà Đ đã đến gọi báo cho bà Lê Thị N đến đưa anh H đi cấp cứu, cùng bà Nghiễng đến cổng nhà Đ lúc khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày. Anh H được đưa vào Bệnh viện cấp cứu lúc 20 giờ 45 phút và tử vong lúc 22 giờ 15 phút cùng ngày 24 tháng 7 năm 2018. Thời gian từ khi anh H bị Đ đánh đến khi được đưa vào Bệnh viện khoảng 2 giờ đồng hồ, thời gian từ khi anh H bị đánh đến khi chết tại Bệnh viện trong khoảng từ 3 đến dưới 4 giờ đồng hồ. Tuy khi phạm tội Nguyễn Văn Đ chỉ biết đánh anh H cho bỏ tức nhưng sau khi tát vào mặt, đấm móc vào bụng anh H, Nguyễn Văn Đ thấy anh H bị chảy máu ở mặt, gục xuống nền nhà, không tự đi được ra khỏi nhà Đ nhưng Nguyễn Văn Đ đã không quan tâm đến tình trạng thương tích chảy máu, sức khoẻ của anh H sau khi bị Đ tát, bị Đ đấm móc mạnh vào bụng để đưa anh H đi cấp cứu hoặc gọi người đưa anh H đi cấp cứu mà còn kéo lê anh H ra khỏi nhà Đ. Trong khi Đ kéo anh H ra cổng, Đ bị vấp ngã ở bậc lên xuống làm anh H bị ngã theo. Khi bà Lê Thị N được bà Sáu gọi đến cổng nhà Đ thấy anh H đang trong tình trạng nguy kịch trước cổng nhà Đ liền gọi báo cho Đ biết thì Đ trả lời “đến nhà uống say không chịu về thì tao đánh cho chết”. Khi thấy mọi người gọi xe tắc xi đưa anh H đi cấp cứu thì Nguyễn Văn Đ mới ra xem thấy anh H đang nguy kịch thì chạy xe máy bỏ trốn rồi ra trình diện khai báo hành vi phạm tội của mình.

Theo hậu quả anh Lê Xuân H chết được xác định do bị Nguyễn Văn Đ tát vào mặt, sau đó bị Nguyễn Văn Đ dùng tay đấm móc mạnh vào bụng làm tổn thương gan, thận, chảy máu trong, chết do sốc mất máu cấp, cho thấy sau khi anh H bị Đ tát vào mặt, đấm móc mạnh vào bụng, Đ thấy anh H bị chảy máu ở mặt, gục xuống nền nhà nhưng Đ vẫn thả mặc rồi kéo lê anh H ra để ở cổng nhà Đ, vào nhà đóng cửa, tắt điện nhưng vẫn mở ti vi xem. Trong khi Đ kéo lê anh H từ nhà ra cổng, do Đ bị trượt chân ở bậc lên xuống làm cả Đ và anh H cùng ngã xuống bậc lên xuống nhưng Đ cũng không quan tâm tình trạng thương tích, sức khoẻ của anh H sau lần bị vấp ngã này mà vùng dậy tiếp tục kéo bằng được anh H ra thả mặc ở cổng nhà mình. Khi bà Đặng Thị Sáu đi qua phát hiện anh H đang trong tình trạng nguy kịch đã chạy đi gọi cho bà Lê Thị N, khi bà Lê Thị N đến cổng nhà Đ đưa anh H đi Bệnh viện có gọi báo cho Đ biết tình trạng nguy kịch của anh H thì Đ vẫn trả lời “đến nhà uống say không chịu về thì tao đánh cho chết” đã thể hiện được ý thức chủ quan của Nguyễn Văn Đ là đánh cho bỏ tức rồi thả mặc cho anh Lê Xuân H ra sao cũng được, không quan tâm hậu quả anh H chết hay bị thương tích.

Theo ý thức chủ quan của Nguyễn Văn Đ sau khi tát vào mặt, đấm móc mạnh vào bụng anh H và hậu quả anh H chết được xác định do bị Nguyễn Văn Đ đấm móc mạnh vào bụng làm tổn thương gan, thận, chảy máu trong nhưng không được đưa vào cấp cứu kịp thời ở Bệnh viện mà được Đ kéo ra thả mặc ở cổng nhà Đ, sau đó mới được phát hiện đưa vào Bệnh viện thì đã quá muộn, anh H chết do sốc mất máu cấp, với trường hợp này pháp luật buộc Nguyễn Văn Đ phải chịu trách nhiệm hình theo hậu quả chết người đã xảy ra với ý thức chủ quan thả mặc người bị đánh khi đã thấy và biết được người bị đánh đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng nhưng không đưa người bị đánh vào Bệnh viện để cứu chữa.

Theo hậu quả anh Lê Xuân H bị chết và kết luận giám định của Cơ quan chuyên môn về nguyên nhân chết, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy hành vi của Nguyễn Văn Đ dùng tay tát vào mặt anh H làm chảy máu mũi sau đó dùng tay đấm móc mạnh vào bụng anh H gây tổn thương gan, thận, chảy máu trong, sau đó anh H được Đ kéo lê ra thả mặc ở cổng nhà Đ và tử vong sau khi được đưa và Bệnh viện cấp cứu đã phạm vào tội “Giết người” nhưng Bản án sơ thẩm lại cho rằng Nguyễn Văn Đ đánh anh H bằng tay, không cố ý tước đoạt mạng sống của anh H để không trả hồ sơ yêu cầu điều tra Nguyễn Văn Đ về tội “Giết người”, chuyển vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Quảng xét xử sơ thẩm theo thẩm quyền mà vẫn tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án theo truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đối với Nguyễn Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo tình tiết định khung “Làm chết người” của điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đã xử sai tội danh đối với Nguyễn Văn Đ. Kháng cáo của ông Lê Văn H, người được các đại diện bị hại uỷ quyền tham gia tố tụng giải quyết vụ án đề nghị xét xử Nguyễn Văn Đ về tội “Giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, nên được chấp nhận.

Do tội “Giết người” được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 là tội nặng hơn so với tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại Điều134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo quy định của điểm c khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì tội “Giết người” không thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp huyện nên

Hội đồng xét xử phúc thẩm phải căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự để huỷ Bản án sơ thẩm số 01/2019/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới để điều tra lại vụ án theo quyết định của Bản án phúc thẩm.

Do thời hạn tạm giam bị cáo để xét xử phúc thẩm sắp hết nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 5 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Đ cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới thụ lý lại hồ sơ vụ án để điều tra theo quyết định của Bản án phúc thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn Đ đã rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, do Bản án sơ thẩm bị huỷ để điều tra, xét xử lại sơ thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét nội dung kháng cáo về bồi thường thiệt hại của đại diện bị hại.

[2]. Về án phí hình sự sơ thẩm, phúc thẩm, án phí dân sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ.

Do Bản án sơ thẩm bị huỷ để điều tra, xét xử lại sơ thẩm nên bị cáo Nguyễn Văn Đ chưa phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, chưa phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo lần xét xử phúc thẩm này.

Vụ án có ông Nguyễn Hồng Đ tham gia tố tụng do là người đứng ra thương lượng giải quyết việc bồi thường dân sự với đại diện bị hại và giao nộp số tiền 30.000.000 đồng bồi thường cho đại diện gia đình bị hại; có bà Nguyễn Thị T là mẹ của bị cáo Nguyễn Văn Đ; có các bà Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Đ được Bản án sơ thẩm xác định tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không nói rõ quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của những người này về việc gì để họ thực hiện quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo tư cách tố tụng được xác định. Các ông Lê Đức T, Hoàng Bá Đ được Bản án sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng theo kết quả điều tra và xét xử thì ông Lê Đức T, Hoàng Bá Đ phải là người làm chứng mới đúng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 268; điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn H là người được các đại diện bị hại uỷ quyền tham gia tố tụng giải quyết vụ án để huỷ Bản án sơ thẩm 01/2019/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới điều tra lại theo quyết định của Bản án phúc thẩm.

Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Đ cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới thụ lý lại vụ án để điều tra theo quyết định của Bản án phúc thẩm.

Do Bản án sơ thẩm bị huỷ để điều tra Nguyễn Văn Đ về tội “Giết người” nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét nội dung kháng cáo của đại diện bị hại về bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại.

[2]. Bị cáo Nguyễn Văn Đ chưa phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm; không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (16 tháng 4 năm 2019).


112
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2019/HS-PT ngày 16/04/2019 về tội giết người

Số hiệu:37/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quảng Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về