Bản án 37/2019/HNGĐ-ST ngày 31/05/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 37/2019/HNGĐ-ST NGÀY 31/05/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 31 tháng 05 năm 2019, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 868/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 13/5/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Dương Thị L, sinh năm 1995

HKTT: xóm NS, xã LS, TPTN, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở: xóm C, xã HT, TPTN, tỉnh Thái Nguyên

Bị đơn: Anh Bùi Đức V, sinh năm 1990

HKTT: xóm NS, xã LS, TPTN, tỉnh Thái Nguyên (các đương sự có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ti đơn khởi kiện ngày 22/11/2018 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 07/12/2018, bản tự khai, biên bản hoà giải, nguyên đơn Chị Dương Thị L trình bày:

Chị với anh V được tìm hiểu yêu thương nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã LS, huyện Đồng Hỷ (nay là thành phố Thái Nguyên), tỉnh Thái Nguyên vào tháng 6 năm 2013. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống cùng bố mẹ chồng tại xã LS vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nhưng do anh V ham chơi, mải vui bạn bè chị khuyên bảo không được, hành ngày anh V đi làm ở quanh thành phố Thái Nguyên nhưng ít khi về nhà, không quan tâm hỏi han gì đến vợ con, giữa anh chị thường xuyên xảy ra cãi vã, do nhiều lần nhờ gia đình 2 bên hòa giải không được, giữa năm 2018 chị về nhà mẹ đẻ ở xã HT, TPTN sinh sống đồng thời vợ chồng sống ly thân, đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: chị xác định vợ chồng có 02 con chung là Bùi Dương Thanh Tr, sinh ngày 09/01/2012 và Bùi Hương Gi, sinh ngày 16/05/2014, chị đề nghị mỗi người nuôi một con, đồng thời không do mỗi người nuôi một con nên không ai có nghĩa vụ nuôi con, hiện nay chị làm ở Công ty TNHH HADANBVINA khu công nghiệp Điềm Thụy, Phú Bình từ ngày 04/3/2019 với thu nhập khoảng 6.000.000đ/tháng nên có đủ điều kiện để nuôi con Về tài sản chung, công nợ chung: chị xác định vợ chồng không có tài sản chung, vợ chồng không nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn anh Bùi Đức V trình bày: Anh xác định quá trình kết hôn, chung sống và mâu thuẫn như chị L trình bày là đúng. Trong quá trình chung sống vợ chồng có quá nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, vợ chồng không quan tâm lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích nên chị Lvề nhà ông Ngoại của chị L sinh sống từ đầu tháng 12/2018 cùng với cháu Bùi Hương Gi, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn anh nhất trí ly hôn.

Về con chung: Anh nhất trí như chị L trình bày vợ chồng có 02 con chung, anh đề nghị được nuôi cả 2 con chung, anh không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con lý do chị L là người không chu toàn, không chăm lo đến con cái, kể cả việc đóng học cho con chị cũng không đóng, năm 2018 khi vợ chồng còn chung sống anh có đưa tiền để chị L để đóng học cho cháu Bùi Dương Thanh Tr ở trường tiểu học LS nhưng chị L không đóng học, nên đầu năm 2019 nhà trường nhắc nhở việc đóng học cho con, hơn nữa chị L bị bệnh động kinh thỉnh thoảng lên cơn co giật con anh còn nhỏ sẽ khó tự mình chăm sóc đồng thời là con gái lên anh cũng muốn 2 chị em gần gũi bảo ban nhau nhau. Hiện nay anh làm nghề tự do (đi làm sơn nhà) và làm ruộng thu nhập khoảng 200.000đ/ngày, anh một mình ở cùng với bố mẹ đẻ nên có đủ thời gian và điều kiện để nuôi con.

Về tài sản chung công nợ chung anh cũng nhất trí trình bày của chị L, vợ chồng không có tài sản chung công nợ chung.

Ti bản tự khai ngày 28/2/2019 cháu Bùi Dương Thanh Tr đề nghị được ở với bố, Tại biên bản làm việc ngày 10/5/2019 với ông Trần Xuân Th (là ông ngoại của chị L) xác định: hiện bố chị L đã mất, mẹ đi xuất khẩu lao động, chị L và con ở cùng ông bà, chị L đi làm ở khu công nghiệp Sam Sung, Phổ Yên, đi làm 2 tuần ca sáng, 2 tuần ca chiều nên việc đưa đón cháu Gi đi học thường nhờ đến ông, mặc dù L có bị bệnh co giật nhưng không thường xuyên.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thành phố Thái Nguyên phát biểu ý kiến: từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự, chấp hành đúng thời hạn chuẩn bị xét xử, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: áp dụng Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016. Chấp nhận đơn ly hôn của Chị Dương Thị L, về quan hệ hôn nhân: Cho Chị Dương Thị L ly hôn với anh Bùi Đức V; về con chung: giao cháu Bùi Dương Thanh Tr cho Chị Dương Thị L chăm sóc, giao cháu Bùi Hương Gi cho anh Bùi Đức V chăm sóc; về tài sản chung, công nợ chung không giải quyết do không yêu cầu.

Về án phí chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

1.1 Về Thẩm quyền: Theo đơn yêu cầu ly hôn giữa nguyên đơn là Chị Dương Thị L, sinh năm 1995 với bị đơn Anh Bùi Đức V, sinh năm 1990 cùng HKTT: xóm NS, xã LS, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

1.2 Thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã giải quyết theo đúng quy định pháp luật. Do các đương sự không thỏa thuận được giải quyết vụ án, căn cứ vào khoản 3 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên quyết định đưa vụ án ra xét xử.

[2].Về nội dung vụ án:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị với anh V được tìm hiểu yêu thương nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã LS, huyện Đồng Hỷ (nay là thành phố Thái Nguyên), tỉnh Thái Nguyên vào tháng 6 năm 2013, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận.

Sau khi kết hôn vợ chông chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do anh V ham chơi, mải vui bạn bè, không quan tâm hỏi han gì đến vợ con, giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, nhiều lần gia đình 2 bên hòa giải nhưng không có kết quả, đến giữa năm 2018 chị L và anh V đã sống ly thân, anh V thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn như chị L trình bày và nhất trí ly hôn. Từ lời khai của các đương sự Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để xác định giữa chị L, anh V đến nay không có sự thương yêu, quý trọng, sự chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, mặc dù mâu thuẫn đã được 2 bên gia đình hòa giải nhưng vẫn không cải thiện được do đó tình trạng hôn nhân đã ở mức mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả 2 bên nên cần chấp yêu cầu xin ly hôn của chị L, cho chị L được ly hôn với anh V là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống chị L, anh V có 02 con chung là Bùi Dương Thanh Tr, sinh ngày 09/01/2012 và Bùi Hương Gi, sinh ngày 16/05/2014, hiện cháu Tr ở cùng với anh V, cháu Gi ở cùng chị L.

Xét yêu cầu được nuôi con của các đương sự hội đồng xét xử thấy: Tại buổi làm việc ngày 22/2/2019 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, khi chị L đến làm việc tại Tòa án đã tự ngã, nằm bất tỉnh 30 phút, sau khi tỉnh dậy chị xác định đây là biểu hiện của bệnh động kinh, không đủ sức khỏe để tiếp tục làm việc do đó Tòa án hoãn phiên họp ngày 22/2/2019, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án chị L thừa nhận đã phải điều trị 45 ngày tại Bệnh viện Tâm thần Thái Nguyên về bệnh động kinh, sau đó hàng tháng chị lĩnh thuốc tại Trạm y tế xã trong trường hợp chị quên thuốc thì bệnh đôi lúc cũng tái phát. Hơn nữa chị thường xuyên đi làm ca tại khu công nghiệp Sam sung Phổ Yên nên về điều kiện đi lại từ nhà đến nơi làm việc hơn 30km cũng khá khó khăn cho sức khỏe của chị L, hiện nay chị L ở cùng ông bà ngoại (ông 70 tuổi và bà 68 tuổi) đồng thời ông Trần Xuân Th (ông ngoại chị L) cũng xác định chị L ở cùng ông bà, chị L đi làm 2 tuần ngày, 2 tuần đêm việc đưa đón cháu Gi thường do vợ chồng ông bà giúp đỡ đưa đón đi học. Đối với anh V hiện làm tự do, ở cùng với bố mẹ đẻ xét về thời gian và điều kiện chăm sóc anh V có thời gian để đón đưa và chăm sóc các con chung hơn chị L. Xét về mức thu nhập: quá trình tham gia tố tụng các đương sự đã được giải thích về việc chứng minh thu nhập để đảm bảo việc nuôi con, tuy nhiên các đương sự đều xác định mình có thu nhập ổn định, đảm bảo việc nuôi con, anh V xác định làm lao động tự do và làm ruộng có mức thu nhập khoảng 200.000đ/tháng tuy nhiên cả anh V và chị Lđều không có tài liệu chứng minh về thu nhập để đảm bảo cho việc nuoi con của mình. Tuy nhiên xem xét về điều kiện hoàn cảnh, thời gian, sức khỏe dành cho các con giữa các đương sự Hội đồng xét xử thấy anh V đảm bảo được quyền lợi mọi mặt cho các con do đó chấp nhận yêu cầu của anh V cho anh V nuôi dưỡng cả 2 con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh V không yêu cầu, nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị L đến khi anh V có yêu cầu.

Chị L được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự cùng xác định vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai, không cho ai vay nợ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 57,81,82,83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chp nhận đơn khởi kiện của Chị Dương Thị L.

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho Chị Dương Thị L được ly hôn anh Bùi Đức V.

2. Về con chung: Trong quá trình chung sống chị L, anh V có 02 con chung là Bùi Dương Thanh Tr, sinh ngày 09/01/2012 và Bùi Hương Gi, sinh ngày 16/05/2014.

Giao cho anh Bùi Đức V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Bùi Dương Thanh Tr, sinh ngày 09/01/2012 và Bùi Hương Gi, sinh ngày 16/05/2014 cho đến khi các con con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị L đến khi có thay đổi khác hoặc anh V có yêu cầu.

Chị L có quyền đi lại, thăm và chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản. Trong trường hợp cần thiết, vì lợi ích của con chung, các bên có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Dương Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007058 ngày 07/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Báo cho chị L, anh V biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. 


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2019/HNGĐ-ST ngày 31/05/2019 về ly hôn

Số hiệu:37/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:31/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về