Bản án 37/2019/HNGĐ-ST ngày 28/03/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 37/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/03/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 78/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2019/QĐXX-ST ngày 05 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đức Ngãi 1, xã Đức Lập Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

2.Bị đơn: Anh Hồ Văn Th, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Giồng Lớn, xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 19 tháng 11 năm 2018 và trong những lời khai tiếp theo tại Tòa án chị Nguyễn Thị Huyền Tr trình bày:

Về hôn nhân: chị và anh Hồ Văn Th tự nguyện kết hôn năm 2012. Hai người có đến UBND xã Đức Lập Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đăng ký kết hôn theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình vào ngày 23 tháng 4 năm 2012. Cuộc sống chung vợ chồng thời gian đầu hòa thuận hạnh phúc đến tháng 6 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn và hai người chính thức ly thân nhau từ tháng 8/2018 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau về việc chi tiêu tiền bạc trong gia đình. Chị xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên xin được ly hôn với anh Th.

Về con chung: có 01 con chung tên Hồ Phúc Th sinh ngày 02/12/2016 hiện con do chị đang nuôi, khi ly hôn chị xin tiếp tục nuôi các con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: không có.

Nợ chung: không có.

Đi với bị đơn: anh Hồ Văn Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không phản hồi ý kiến gì về việc giải quyết vụ án cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp là hôn nhân gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đức Hoà theo quy định tại Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Tr có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị Tr, anh Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Th.

[2] Về hôn nhân: Xét thấy chị Tr và anh Th hai người trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau thời gian ngắn khoảng 03 tháng và tiến đến hôn nhân vào năm 2012 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đức Lập Thượng, tỉnh Long An nên có căn cứ xác định hôn nhân của anh chị là phù hợp pháp luật theo quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Thấy rằng từ khi chung sống, hai người sống hạnh phúc đến năm 2018 mới phát sinh mâu thuẫn cãi vã về việc hai người chi tiêu không hợp lý. Đến tháng 8/2018 hai người ly thân. Hai người không có thiện chí hàn gắn, không đến Tòa án hòa giải đoàn tụ. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng chị Tr và anh Th hai người không có khả năng đoàn tụ, mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn ly hôn của chị Tr với anh Th theo quy định Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Giao con chung cho chị Tr nuôi con tên Hồ Phúc Th sinh ngày 02/12/2016. Anh Th không cấp dưỡng nuôi con vì chị Tr không yêu cầu.

[4] Về tài sản chung: chị Tr khai không có không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.

[5] Về nợ chung: chị Tr khai không có không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.

[6] Về án phí: chị Tr là nguyên đơn trong vụ án phải chịu án phí Hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 35, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huyền Tr được ly hôn với anh Hồ Văn Th.

2/ Về con chung: chị Tr được tiếp tục nuôi tên Hồ Phúc Th sinh ngày 02/12/2016. Anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Tr không yêu cầu. Vì quyền lợi của trẻ, anh Th được đến thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Khi cần thiết, các đương sự có quyền yêu cầu xin thay đổi việc nuôi con và yêu cầu tăng cấp dưỡng nuôi con.

3/ Về án phí: chị Nguyễn Thị Huyền Tr phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước, được khấu trừ số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị Tr đã nộp theo biên lai số 4036 ngày 22 tháng 01 năm 2019 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Như vậy chị Tr đã nộp xong.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2019/HNGĐ-ST ngày 28/03/2019 về ly hôn

Số hiệu:37/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về