Bản án 37/2019/HNGĐ-ST ngày 19/03/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 37/2019/HNGĐ-ST NGÀY 19/03/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 19 tháng 3 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 549/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Đ – sinh năm 1976 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: ấp C R B, xã P H, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Tr – sinh năm 1976 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: ấp C R B, xã P H, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo chị Trương Thị Đ trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Tr kết hôn vào năm 1995, không có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, chị Đ và anh Tr sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống, thường hay cãi nhau. Sau khi xảy ra mâu thuẫn, gia đình hai bên đã hòa giải, hàn gắn cho anh chị nhưng không thành. Chị Đ và anh Tr đã sống ly thân với nhau từ năm 2014 đến nay. Tại phiên tòa, chị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Văn Tr.

- Về con chung: Chị Trương Thị Đ và anh Nguyễn Văn Tr có 02 người con chung tên là Nguyễn Văn Thãnh sinh ngày 10 tháng 11 năm 1995 và Nguyễn Thạch

Bảo sinh năm 1997. Hiện tại, các con của anh chị đã trưởng thành và có khả năng tự nuôi sống bản thân nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị Đ xác định trong thời gian chung sống, anh chị không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng anh chị, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tranh chấp giữa chị Trương Thị Đ và anh Nguyễn Văn Tr là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự. Anh Tr có địa chỉ tại ấp C R B, xã P H, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

 [2] Về nội dung tranh chấp của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hôn nhân: Anh chị kết hôn vào năm 1995 nhưng không có đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân không hợp pháp, không được pháp luật thừa nhận. Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình thì Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ giữa anh chị là vợ chồng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình thì chị Đ có quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Yêu cầu của chị Đ đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau tiến hành hòa giải tại Tòa án theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, anh Tr đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng Dân sự. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập anh Tr hợp lệ đến lần thứ hai với nội dung triệu tập anh Tr đến Tòa án nhân dân huyện Cái Nước để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh Tr vẫn vắng mặt. Do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Tr.

Về con chung: Hội đồng xét xử xét thấy đến ngày xét xử sơ thẩm, các con của anh chị đã trưởng thành và có khả năng tự nuôi sống bản thân, chị không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị Đ xác định vợ chồng anh chị không nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng anh chị, chị không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với anh Tr vắng mặt tại phiên tòa và không có ý kiến gì về con chung, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này giữa các bên đương sự có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.

 [3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Đ phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Các Điều 9, 14, 53, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình;Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Trương Thị Đ và anh Nguyễn Văn Tr là vợ chồng.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trương Thị Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, đối trừ số tiền tạm ứng án phí mà chị Đ đã dự nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004955 ngày 04 tháng 12 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, chị Đ nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn Tr không phải chịu án phí hôn nhân và giađình sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm chị Trương Thị Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn Tr có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


77
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2019/HNGĐ-ST ngày 19/03/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:37/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Nước - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về