Bản án 101/2018/HNGĐ-ST ngày 18/09/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 101/2018/HNGĐ-ST NGÀY 18/09/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 18 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 241/2018/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2018/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Huỳnh Minh T, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Long An. (có mặt).

- Bị đơn: Chị Võ Thị Mộng T, sinh năm 1999;

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 11/6/2018 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn anh Huỳnh Minh T trình bày: anh và chị T cưới nhau vào tháng 4 năm 2017, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 26/6/2017 tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Long An. Sau khi cưới, cuộc sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc đến tháng 8/2017 thì phát sinh mâu thuẩn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong nhiều vấn đề nên vợ chồng thường xuyên cãi vả và chị T đã có quan hệ tình cảm với người khác nên vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 20/5/2018. Nay anh yêu cầu được ly hôn với chị T .

Về nuôi con chung: Không có con chung.

Về chia tài sản: Không có tài sản chung.

Về nợ chung: Không có nợ chung.

Đối với bị đơn chị Võ Thị Mộng T, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, thông báo hòa giải, thông báo phiên tòa hợp lệ nhưng chị T không nộp văn bản nêu ý kiến và cũng không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải, phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết:

Anh Huỳnh Minh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Võ Thị Mộng T là quan hệ tranh chấp ly hôn, căn cứ theo qui định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Đối với chị Võ Thị Mộng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị T vẫn không đến tham gia phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xử vắng mặt chị T.

 [2] Về nội dung:

Về hôn nhân: Anh Huỳnh Minh T và chị Võ Thị Mộng T cưới nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 26/6/2017 tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Long An là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời trình bày của anh T thì nguyên nhân dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn là do tính tình không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm và chị T có quan hệ tình cảm với người khác nên vợ chồng thường xuyên cãi vả nhau. Khi mâu thuẫn xảy ra, cả hai cũng không cố gắng cùng nhau giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nên vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 20/5/2018 đến nay nên anh T yêu cầu ly hôn với chị T. Đối với chị T, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng chị T vẫn không nộp cho Tòa án bất cứ văn bản nào trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của anh T và chị T cũng không đến Tòa án để giải quyết cho thấy chị T không có Tện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh T và chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình cần xử chấp nhận cho anh T được ly hôn với chị T.

Về nuôi con chung: không có nên không đề cập đến.

Về chia tài sản và nợ chung: anh T trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không xét. Nếu sau này chị T cung cấp chứng cứ chứng minh giữa anh T và chị T có tài sản và nợ chung thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

[3] Về án phí: Anh T phải chịu án phí theo qui định của pháp luật án phí, lệ phí Tòa án.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: anh Huỳnh Minh T được ly hôn với chị Võ Thị Mộng T.

2. Về án phí: anh Huỳnh Minh T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 000090 ngày 21/6/2018 của Chi cục T hành án dân sự huyện C, anh T đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.


160
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 101/2018/HNGĐ-ST ngày 18/09/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:101/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cần Đước - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về