Bản án 37/2019/HNGĐ-ST ngày 07/11/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 37/2019/HNGĐ-ST NGÀY 07/11/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI DƯỠNG CON CHUNG KHI LY HÔN

Ngày 07 tháng 11 năm 2019. Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi dưỡng con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 20A/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29/10/2019 giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị M.

Địa chỉ: Tổ dân phố số 4, thị trấn T, huyện B, tỉnh Lào Cai-Có mặt tại phiên tòa.

2- Bị đơn: Anh Đào Xuân V.

Địa chỉ: Tổ dân phố số 4, thị trấn T, huyện B, tỉnh Lào Cai – Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 11/6/2019 và các bản tự khai của chị Hồ Thị M cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án thì chị Hồ Thị M và anh Đào Xuân V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện B, tỉnh Lào Cai vào ngày 13/12/1999. Sau ngày kết hôn, vợ chồng về chung sống, hoà thuận hạnh phúc, đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm trong làm ăn và tạo dựng cuộc sống gia đình và nuôi dậy con cái, cuộc sống vợ chồng thường xuyên sẩy ra bất hòa cãi vã lẫn nhau, thiếu sự tôn trọng đối với bản thân và đôi bên gia đình. Mặt khác anh Đào Xuân V ghen tuông vô cớ. Khi mâu thuẫn sảy ra vợ chồng đã được gia đình, anh em khuyên giải nhiều lần nhưng đều không có kết quả, thực tế vợ chồng đã tự sống ly thân từ tháng 6 năm 2018 cho đến nay, trong thời gian này vợ chồng không quan tâm thăm hỏi gì nhau và cũng không quan hệ tình cảm với nhau nữa. Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Hồ Thị M có yêu cầu và nguyện vọng xin được ly hôn với anh Đào Xuân V.

Về con chung: Chị Hồ Thị M xác nhận chị và anh Đào Xuân V chung sống với nhau đến nay đã có 02 con chung. Cháu lớn: Đào Thị Ngọc A-Sinh ngày: 22/8/2000; Cháu thứ hai: Đào Xuân Đ-Sinh ngày: 23/11/2001. Hiện nay các cháu đều khỏe mạnh phát triển bình thường và cháu Đào Thị Ngọc A đã trưởng thành trên 18 tuổi. Nên khi ly hôn chị Hồ Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Đào Xuân Đ hiện tại cháu đang ở với chị Hồ Thị M. Khi ly hôn chị Hồ Thị M có yêu cầu và nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đào Xuân Đ cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Hồ Thị M không yêu cầu anh Đào Xuân V cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung: Chị Hồ Thị M xác nhận trong thời gian chung sống chị và anh Đào Xuân V có tạo dựng được một số tài sản chung nhưng trị giá không lớn, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Chị Hồ Thị M xác nhận trong thời gian chung sống chị và anh Đào Xuân V không vay mượn gì của ai và cũng không cho ai vay mượn gì. Nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Đào Xuân V trong quá trình giải quyết vụ án anh Đào Xuân V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh Đào Xuân V không những không trả lời Tòa án bằng văn bản về những yêu cầu và nguyện vọng của mình đối với yêu cầu của chị Hồ Thị M mà thậm chí anh Đào Xuân V cố tình trốn tránh gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Do vậy vụ án này Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Trình bày những quan điểm về thủ tục tố tụng tại phiên tòa cũng như trong quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các bước thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật cố tình trốn tránh gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên Tòa án đã tiến hành các biện pháp tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam; Khoản 4 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị M ly hôn với anh Đào Xuân V. Về con chung: Xử Giao cháu Đào Xuân Đ-Sinh ngày: 23/11/2001 cho chị Hồ Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Đào Xuân Đ trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Đào Xuân V không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Hồ Thị M và anh Đào Xuân V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện B, tỉnh Lào Cai vào ngày 13/12/1999. Đây là một hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau ngày kết hôn vợ chồng về chung sống hoà thuận hạnh phúc đã có 02 con chung với nhau. Đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến việc chị Hồ Thị M làm đơn xin ly hôn anh Đào Xuân V là do quan điểm, cách sống của vợ chồng không thống nhất với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình và nuôi dậy con cái. Mặt khác anh Đào Xuân V ghen tuông vô cớ, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi lẫn nhau, thiếu sự tôn trọng đối với bản thân và đôi bên gia đình. Tháng 7/2018 chị Hồ Thị M đã có đơn xin ly hôn với anh Đào Xuân V nhưng đã được anh em gia đình khuyên giải nên chị Hồ Thị M đã rút đơn để vợ chồng về đoàn tụ. Sau khi rút đơn về đoàn tụ bản thân anh Đào Xuân V không những không khắc phục được mâu thuẫn mà thậm chí còn để cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Thực tế vợ chồng đã tự sống ly thân nhau từ tháng 6 năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian này vợ chồng không quan tâm, thăm hỏi gì đến nhau và cũng không có trách nhiệm gì với nhau nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn ngày 11/6/2019 chị Hồ Thị M tiếp tục làm đơn khởi kiện xin được ly hôn với anh Đào Xuân V.

Đối với anh Đào Xuân V trong quá trình giải quyết vụ án anh Đào Xuân V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh Đào Xuân V không những không trả lời Tòa án bằng văn bản về những yêu cầu và nguyện vọng của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị M mà thậm chí anh Đào Xuân V cố tình trốn tránh gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Do vậy vụ án này Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay chị Hồ Thị M vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn đối với anh Đào Xuân V với lý do tình cảm vợ chồng không còn mâu thuẫn đã trầm trọng không thể khắc phục được.

Xét yêu cầu của chị Hồ Thị M và đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với các qui định tại Khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân và gia đình. Bởi lẽ mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị M và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ đúng pháp luật.

[2].Về con chung: Tại phiên tòa hôm nay và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chị Hồ Thị M xác nhận: Chị và anh Đào Xuân V chung sống với nhau đến nay đã có 02 con chung. Cháu lớn: Đào Thị Ngọc A; Sinh ngày 22/8/2000 hiện nay cháu khỏe mạnh và đã trưởng thành trên 18 tuổi nên chị Hồ Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết; Cháu thứ hai: Đào Xuân Đ; Sinh ngày:

23/11/2001, hiện các cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và cháu đang ở cùng với chị Tại tổ dân phố số 4, thị trấn T, huyện B, tỉnh Lào Cai. Khi ly hôn chị Hồ Thị M có yêu cầu và nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đào Xuân Đ cho đến khi cháu Đào Xuân Đ trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Hồ Thị M không yêu cầu anh Đào Xuân V phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Xét yêu cầu của chị Hồ Thị M và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc nuôi dưỡng con chung để chị Hồ Thị M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đào Xuân Đ là có căn cứ. Bởi lẽ kể từ khi anh chị sống ly thân từ tháng 6 năm 2018 thì cháu Đào Xuân Đ vẫn ở với chị Hồ Thị M và được chị Hồ Thị M chăm sóc nuôi dưỡng được ăn học và phát triển đầy đủ. Mặt khác để đảm bảo sự ổn định cho cháu Đào Xuân Đ về tâm lý cũng như trong sinh hoạt và quyền lợi về mọi mặt của cháu. Nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị M về việc nuôi dưỡng con chung và giao cháu Đào Xuân Đ-Sinh ngày: 23/11/2001 cho chị Hồ Thị M chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp với tâm tư nguyện vọng của cháu và phù hợp với các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

[3]Về tài sản chung: Chị Hồ Thị M xác nhận trong thời gian chung sống chị và anh Đào Xuân V có tạo dựng được một số tài sản chung nhưng trị giá không lớn, anh chị tự thỏa thuận chia, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về công nợ chung: Chị Hồ Thị M xác nhận trong thời gian chung sống chị và anh Đào Xuân V không vay mượn gì của ai và cũng không cho ai vay mượn gì. Nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5]. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam; Khoản 4 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị M ly hôn với anh Đào Xuân V.

2.Về con chung: Xử giao cháu Đào Xuân Đ-Sinh ngày: 23/11/2001 cho chị Hồ Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi cháu Đào Xuân Đ trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Đào Xuân V không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.

Sau khi ly hôn, anh Đào Xuân V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3.Về án phí: Chị Hồ Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0000067 ngày 14/6/2019 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B.

Xác nhận chị Hồ Thị M đã nộp đủ tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2019/HNGĐ-ST ngày 07/11/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn

Số hiệu:37/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bảo Thắng - Lào Cai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 07/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về