Bản án 37/2018/HS-ST ngày 28/11/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 37/2018/HS-ST NGÀY 28/11/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2018, đối với bị cáo:

Dương Kim T, sinh ngày 28-10-1995; tại xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Trung B và bà Triệu Thị C; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 17/9/2018 đến nay. Có mặt.

+ Người làm chứng:

Anh Dương Văn C1, sinh năm 1993. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Dương Kim T, sinh năm 1995, trú tại Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, là đối tượng nghiện chất ma túy; để có ma túy sử dụng cho bản thân bị cáo Dương Kim T thường đến khu vực giáp ranh giữa xã N và xã T, huyện B mua ma túy với người đàn ông không quen biết, đem về chia nhỏ để sử dụng cho bản thân và bán cho người khác để lấy tiền xoay vòng tiếp tục mua ma túy. Ngày 17/9/2018, bị cáo Dương Kim T đã hai lần bán trái phép chất ma túy cho Dương Văn C1, sinh năm 1993, trú tại thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể như sau: Lần thứ nhất vào khoảng 10 giờ tại nhà của mình bị cáo Dương Kim T bán cho Dương Văn C1 hai gói nhỏ chất ma túy Heroine với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng); lần thứ hai vào khoảng 19 giờ, bị cáo Dương Kim T tiếp tục bán cho Dương Văn C1 02 (hai) gói nhỏ chất ma túy Heroine với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau khi vừa thực hiện xong hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì bị Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang.

Ngày 18/9/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 30/CQ-CSĐT đối với vật chứng thu giữ trên người của Dương Văn C1 và vật chứng phát hiện thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của bị cáo Dương Kim T.

Tại bản kết luận giám định số 330/KL-PC09 ngày 19/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận:

- Chất bột màu trắng có trong 02 (hai) gói giấy gửi giám định bên ngoài ghi "Vật chứng thu giữ của Dương Văn C1" đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,024 gam (đã trừ bì).

- Chất bột màu trắng có trong 06 (sáu) gói giấy gửi giám định bên ngoài ghi "Vật chứng thu giữ của Dương Kim T" đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,140 gam (đã trừ bì).

Với kết quả như trên ngày 20/9/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với bị cáo Dương Kim T để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

Bản Cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 14/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Dương Kim T về Tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quan điểm như trong bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Dương Kim T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, đề nghị mức án từ 07 đến 08 năm tù giam.

Đề nghị không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ số ma túy Heroine thu giữ của bị cáo Dương Kim T và của Dương Văn C1; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA thu giữ của bị cáo; tuyên trả cho bị cáo Dương Kim T 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Tại phiên toà bị cáo Dương Kim T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng và cũng phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Vào hồi 19 giờ ngày 17/9/2018 tổ công tác Công an huyện B phối hợp với Công an xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; thực hiện rà soát người nghiện ma túy tại địa bàn Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; phát hiện bắt quả tang bị cáo Dương Kim T, sinh năm 1995, trú tại Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đang bán trái phép chất ma túy cho Dương Văn C1, sinh năm 1993, trú tại thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Kiểm tra phát hiện trong túi quần đằng trước bên phải của Dương Văn C1 đang mặc có 02 (hai) gói nhỏ bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroine; theo lời khai của Dương Văn C1 đây là chất ma túy Heroine vừa mua với bị cáo Dương Kim T với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng); kiểm tra trong túi quần đằng sau bên phải của bị cáo Dương Kim T đang mặc có 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng); theo lời khai của bị cáo Dương Kim T trong đó có 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) là số tiền do bán trái phép chất ma túy mà có và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) là số tiền của bị cáo do lao động mà có. Tiếp tục khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Dương Kim T phát hiện trong túi áo lót màu trắng trong nhà tắm của bị cáo Dương Kim T 06 (sáu) gói nhỏ bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroine. Tổ công tác Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng đưa về Cơ quan Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn để điều tra làm rõ. Bản thân bị cáo Dương Kim T nghiện chất ma túy từ tháng 7 năm 2018, để có ma túy sử dụng bị cáo Dương Kim T thường đi đến đỉnh dốc đường 241 khu vực giáp ranh giữa xã N và xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn mua ma túy với một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ về chia ra thành nhiều gói nhỏ để sử dụng và bán cho người nghiện khác nhằm mục đích lấy lại số tiền gốc để tiếp tục mua ma túy vừa bán vừa sử dụng. Khoảng 17 giờ ngày 16/9/2018, bị cáo Dương Kim T một mình đi đến khu vực đỉnh dốc giáp ranh giữa xã N và xã T mua 01 (một) gói chất ma túy Heroine với một người đàn ông không quen biết với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Sau đó về nhà bị cáo Dương Kim T chia được 12 (mười hai) gói nhỏ để sử dụng và bán lại cho người nghiện. Khoảng 19 giờ ngày 17/9/2018, bị cáo Dương Kim T đang ở nhà tại Thôn L, xã Nhất Tiến thì có Dương Văn C1 đến nhà hỏi "còn không" ý nói mày còn ma túy không, bị cáo Dương Kim T trả lời "có tiền không" Dương Văn C1 nói tiếp "lấy cho hai cái" ý nói để cho hai gói ma túy, bị cáo Dương Kim T đồng ý cầm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) của Dương Văn C1 đưa cho rồi đi vào nhà tắm lấy ra 02 (hai) gói nhỏ chất ma túy ra đưa cho Dương Văn C1, khi Dương Văn C1 vừa cầm lấy 02 (hai) nhỏ ma túy cho vào túi quần đang mặc thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt quả tang; ngoài ra vào khoảng 10 giờ cùng ngày bị cáo Dương Kim T còn bán cho Dương Văn C1 02 gói ma túy Heroine cũng với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

 [2] Như vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Dương Kim T đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Dương Kim T gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện ma túy Heroine; như vậy cần phải xử bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, có thể chất phát triển bình thường, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy Heroine là vi phạm pháp luật; do muốn có tiền để sử dụng ma túy thỏa mãn cơn nghiện của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo là người có nhân thân tốt, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng đặc biệt khó khăn của huyện B, tỉnh Lạng Sơn, theo quy định của pháp luật cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt.

[5] Đối với người đàn ông đã bán ma túy Heroine cho bị cáo Dương Kim T do bị cáo Dương Kim T không biết họ tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xác minh để xử lý. Như vậy là đúng quy định của pháp luật.

[6] Đối với Dương Văn C1 là những người nghiện chất ma túy, đã có hành vi mua trái phép chất ma túy với bị cáo Dương Kim T, mục đích mang về để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, trong quá trình điều tra, đối tượng đã hợp tác với Cơ quan điều tra. Xét thấy hành vi đó chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã lập hồ sơ người nghiện và giao cho ban Công an xã nơi đối tượng cư trú để quản lý giáo dục. Như vậy là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về tang vật của vụ án:

[8] 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, cũ đã qua sử dụng dùng vào việc phạm tội cần tuyên tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng cát, cũ đã qua sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần tuyên trả lại cho bị cáo Dương Kim T.

[9] 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong theo quy định bên ngoài phong bì ghi “Vật chứng thu giữ của Dương Văn C1”; 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong theo quy định bên ngoài phong bì ghi “Vật chứng thu giữ khám xét của Dương Kim T”. Đây là ma túy Heroine vật cấm lưu hành cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

[10] Số tiền 700.000 đồng (bẩy trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Dương Kim T, trong đó có 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) là tiền bán trái phép chất ma túy Heroine, cần tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước; 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) là số tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, cần tuyên trả cho bị cáo Dương Kim T.

[11] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Dương Kim T là người nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng; nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[12] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo. Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

[13] Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo không có ý kiến gì.

[14] Những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, đề nghị.

[15] Trong quá trình điều tra, truy tố; Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[16] Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

I. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Dương Kim T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Dương Kim T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng (bảy năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/9/2018.

II. Về tang vật của vụ án:

+ Áp dụng điểm a, điểm b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong theo quy định bên ngoài phong bì ghi “Vật chứng thu giữ của Dương Văn C1”; 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong theo quy định bên ngoài phong bì ghi “Vật chứng thu giữ khám xét của Dương Kim T”. Đây là ma túy Heroine vật cấm lưu hành.

Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) trong tổng số tiền 700.000 đồng (bẩy trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Dương Kim T; trả lại cho bị cáo Dương Kim T 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Tuyên tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, cũ đã qua sử dụng;

Tuyên trả cho bị cáo Dương Kim T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng cát, cũ đã qua sử dụng.

 (Vật chứng và số tiền trên hiện đang được lưu giữ tại kho và tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B).

III. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Dương Kim T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Tòa báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

206
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2018/HS-ST ngày 28/11/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:37/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bắc Sơn - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 28/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về