Bản án 37/2018/HNGĐ-ST ngày 04/09/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 37/2018/HNGĐ-ST NGÀY 04/09/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 04 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N - tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 77/2018/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2018 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2018/QĐST - HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Th - sinh năm: 1992; Trú tại: Thôn Tây N1, xã L, huyện N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Hồ Văn L - sinh năm: 1989;

Trú tại: Thôn Tây N1, xã L, huyện N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện gởi đến Tòa án đề ngày 23/02/2018, bản tự khai, biên bản lấy lời khai ngày 15/3/2018 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ngô Thị Th trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh Hồ Văn L tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện N, tỉnh Khánh Hòa. Giấy chứng nhận kết hôn số 67 cấp ngày 07/9/2011.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh L đi chơi với bạn bè xấu, sử dụng ma túy, sa vào con đường nghiện ngập, không lo làm ăn và không quan tâm gì đến vợ con. Anh L đã bị đưa đi cai nghiện thời hạn 02 năm. Vào tháng 3 năm 2017, anh L hết thời hạn đưa đi cai nghiện trở về nhưng sau đó vẫn chứng nào tật nấy, tiếp tục sử dụng ma túy, không chăm lo gì đến gia đình. Từ tháng 5 năm 2017 cho đến nay, anh L đã về nhà cha mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng đã mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm, chăm sóc ai. Chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu xin được ly hôn.

- Về con chung: Có 01 (một) con chung là Hồ Ngô Như Q - sinh ngày 12/6/2011 hiện đang do chị Th chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Th yêu cầu khi vợ chồng ly hôn thì được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị Th xác định vợ chồng không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Chị Th xác định giữa vợ chồng không có nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn anh Hồ Văn L đến Tòa để Tòa án lấy lời khai và tham gia phiên hòa giải nhưng anh L đều không có mặt để làm việc theo Giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Toà án, nên Tòa án không lấy được lời khai và không hòa giải được vụ án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Hồ Văn L là bị đơn đã được Tòa án nhân dân huyện N triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh L kết hôn tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã L, huyện N cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 67 ngày 07 tháng 9 năm 2011. Nên quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô Thị Th và anh Hồ Văn L được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa chị Th vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Hồ Văn L. Xét lời khai của chị Th thì thấy cuộc sống chung vợ chồng giữa chị Th và anh L có nhiều mâu thuẫn và không tìm được phương pháp nào để tiếp tục sống chung với nhau nữa. Vợ chồng thường xảy ra xích mích, cãi vã, xúc phạm nhau. Từ tháng 5 năm 2017 vợ chồng đã mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm chăm sóc ai. Như vậy mâu thuẫn giữa chị Th và anh L đã đến hồi trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, anh L đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến Tòa để Tòa án lấy lời khai và tham gia phiên hòa giải để giải quyết việc ly hôn giữa hai người nhưng anh L đã không có mặt để làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án. Điều đó chứng tỏ anh L không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này nữa nên việc chị Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị Th.

[3] Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Th yêu cầu khi vợ chồng ly hôn thì được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Hồ Ngô Như Q - sinh ngày 12/6/2011.

Xét: Hiện nay con chung Hồ Ngô Như Q - sinh ngày 12/6/2011 đang do chị Th chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu Q còn nhỏ nên cần được mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét yêu cầu của chị Th về việc được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì thấy nên giao cho chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) là có căn cứ và đúng luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Th không có yêu cầu nên Tòa không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị Th xác định vợ chồng không có tài sản chung.

[5] Về nợ chung: Chị Th xác định vợ chồng không nợ của ai, không ai nợ của vợ chồng.

[6] Về án phí: Chị Th phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 28, 35, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

- Chị Ngô Thị Th được ly hôn với anh Hồ Văn L.

- Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cho chị Ngô Thị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hồ Ngô Như Q - sinh ngày 12/6/2011 cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) và chị Ngô Thị Th không yêu cầu anh Hồ Văn L cấp dưỡng nuôi con.

Anh Hồ Văn L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị Th, anh L đều có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung cũng như cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Chị Ngô Thị Th xác định vợ chồng không có tài sản chung.

2. Về án phí: Chị Ngô Thị Th phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0014035 ngày 15 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh. Chị Th đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử phúc thẩm.

 Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


52
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 37/2018/HNGĐ-ST ngày 04/09/2018 về ly hôn

    Số hiệu:37/2018/HNGĐ-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vạn Ninh - Khánh Hoà
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:04/09/2018
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về