Bản án 37/2017/HSST ngày 29/07/2017 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 37/2017/HSST NGÀY 29/07/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 38/2017/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn B (tên gọi khác: không), sinh năm 1993 tại huyện H, tỉnh Ninh Bình; trú tại: thôn P, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; con ông Nguyễn Hữu V và bà Hoàng Thị Y; có vợ là Trần Thị T và 01 con; tiền sự: không; tiền án: tại bản án hình sự số 10/2016/HSST ngày 27/11/2015 của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình bị cáo bị xử phạt 6 triệu đồng; Bị cáo bị tạm giam tại trại Tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình từ ngày 04 tháng 6 năm 2017 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Đinh Văn V, sinh năm 1976, trú tại: thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Có mặt.

Người có quyền lợi liên quan trong vụ án: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1980, trú tại: thôn TD, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Văn B bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 02 tháng 5 năm 2017, tại khu vực cổng chợ thôn T, Nguyễn Văn B gặp Đinh Văn V và đến xin khất nợ với V do trước đó B có nợ tiền của V chưa trả được. Đinh Văn V đã dùng tay đấm vào mang tai bên trái của Nguyễn Văn B. B bỏ chạy và gọi điện cho anh trai là Nguyễn Văn M sinh năm 1982, trú tại: thôn P, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình nhờ anh M ra lấy xe máy về. Anh M lấy xe máy đi đến chỗ B bị đánh nhưng không tìm thấy B. Tại đây, M bị V dùng tay đấm vào vùng dưới mí mắt trái gây rách da, chảy máu. Sau đó, được mọi người can ngăn nên M đi xe máy về quán cắt tóc của B và M đang thuê tại thôn TD, xã N thì gặp B cũng vừa về đến quán. Lúc này, V cũng đi đến gần chỗ quán của B và M. M cầm một nửa viên gạch ném anh V nhưng không trúng. Do biết M bị V đánh chảy máu nên cùng lúc đó B bực tức chạy vào bếp nhà chị Phạm Thị L (cạnh quán cắt tóc M thuê) lấy 01 con dao loại dao gọt hoa quả đầu nhọn, dài 30 cm, cán bằng nhựa màu đen dài 12 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 18 cm, phần rộng nhất là 4,5 cm, trên lưỡi dao có chữ ROTEL-Swis Desingu. B cầm dao ở tay phải, nói với M đừng ném nữa để B nói chuyện với V. Khi B đến gần chỗ V đứng cách 1 mét, thấy V giơ tay định đánh mình, B cầm dao ở tay phải xông vào đâm một nhát vào đường nách sau bên trái của V. V ôm lấy B thì B vòng tay ra phía sau đâm tiếp một nhát nữa vào phía sau lưng bên phải của V. V bỏ chạy sau đó được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình đến ngày 17/5/2017 thì xuất viện được chuẩn đoán đa vết thương thấu ngực trái, vết thương thấu bụng rách thanh cơ đại tràng lên. Sau khi đâm V, B vứt con dao ở góc ruộng phía sau nhà anh Hoàng Mậu A ở thôn H, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ con dao trên và chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư quản lý. Chị L không yêu cầu được nhận lại con dao này.

Tại bản kết luận Giám định pháp y về thương tích số 31/2017/Th-GĐPY ngày 15/5/2017 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Ninh Bình kết luận: vết thương liên sườn 6-7 nách sau, nằm dọc bờ ngoài cơ lưng trái, kích thước 8 x 0,3 cm; vết thương bờ ngoài cơ lưng phải liên sườn 10 - 11, kích thước 6 x 0,3 cm. Tỉ lệ tổn thương cơ thể của V do thương tích gây nên là 22 %, cơ chế hình thành vết thương do vật sắc nhọn gây nên.

Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Văn B đã tác động gia đình bồi thường cho anh V 80 triệu đồng. Anh V không có yêu cầu bồi thường thêm, xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 12/9/2017, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hoản 2 Điều 104, điểm g khoản 1 Điều 48, các điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự 1999, khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 134, điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giam. Áp dụng Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy con dao là vật chứng của vụ án.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa;

XÉT THẤY

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 2/5/2017, tại trục đường thôn TD, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, bị cáo đã dùng dao nhọn đâm một nhát vào nách sau bên trái và một nhát vào phía sau lưng bên phải của V gây thương tích với tổn thương cơ thể là 22%. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi liên quan, người làm chứng, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định pháp y, ...

Bị cáo nhận thức được việc dùng dao nhọn đâm người khác sẽ gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của họ nhưng trong lúc bực tức, bột phát, không kìm nén được bản thân, bị cáo đã cố ý dùng con dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Đinh Văn V. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

Trước lần phạm tội này, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xử phạt về tội đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án nhưng chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và có thái độ ăn năn, hối cải; đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ cho người bị hại, được người bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; khi

thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo bị kích động về mặt tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại gây ra cho bị cáo và anh trai của bị cáo nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Đối chiếu với quy định tại Bộ luật Hình sự 2015, bị cáo có bố là người có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự 2015. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015, hành vi của bị cáo được quy định một hình phạt nhẹ hơn so với Bộ luật Hình sự hiện hành nên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét để áp dụng các quy định có lợi này cho bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần quyết định cho bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội.

Vật chứng của vụ án là con dao bị cáo dùng làm công cụ phạm tội thuộc sở hữu của gia đình chị Phạm Thị L. Chị L xác định con dao đã cũ, không yêu cầu được nhận lại nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Người bị hại đã nhận tiền bồi thường, không có yêu cầu gì khác nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét, giải quyết. Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn B cũng không có yêu cầu gì đối với hành vi của V đã gây ra cho mình. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với V và M là đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm g khoản 1 Điều 48, các điểm b, đ, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, điều 47 của Bộ luật Hình sự 1999, khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 134, điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội

Xử phạt bị cáo 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (04/6/2017).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy con dao là vật chứng của vụ án hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư, có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư ngày 12 tháng 9 năm 2017.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


65
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về