Bản án 36/2018/HSST ngày 29/08/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 36/2018/HSST NGÀY 29/08/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 29 tháng 8 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2018/HSST ngày 03 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn K L, sinh năm 1995, tại Bình Phước; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; con ông Nguyễn T G, sinh năm 1972 và bà Lương Thị H, sinh năm 1976, có 01 em ruột sinh năm 1998.HKTT: Ấp T H, xã T T, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Tiền án,  Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/5/2018 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn H H-SN 1992

Trú tại: KP B K, thị trấn T P, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

2/ Bà Trần Thị Tú T-SN 1974

Trú tại: Số 289, Quốc lộ 14, P T Th, TX Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

3/ Ông Đặng Mạnh P-SN 1985

Trú tại: Tổ 3, KP Ph C, P T Ph, TX Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 21/3/2018, bị cáo Nguyễn K L ở phòng trọ tại khu phố Bàu Ké, thị trấn Tân Phú, huyện Đồng Phú gọi điện thoại cho một người tên H1 (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá để sử dụng thì H1 đồng ý và nói L ra đường D1 thuộc khu phố B K, thị trấn T Ph, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Sau đó L mượn xe mô tô Exciter biển kiểm soát 93M1 -143.16 của ông Nguyễn H H để đi gặp H1. Khi gặp, L đưa cho H1 300.000 đồng, H1 đưa cho L1 một gói nilon chứa ma túy đá rồi H1 bỏ đi. Bị cáo L bỏ gói nilon chứa ma túy vào gói thuốc lá hiệu JET cầm trên tay thì bị Công an huyện Đồng Phú và Công an thị trấn Tân Phú kiểm tra phát hiện trong gói thuốc lá hiệu JET Lập cầm trên tay bên trong có một gói nilon hàn kín hai đầu, chứa chất tinh thể màu trắng nên đã thu giữ và mời Lập về làm việc. Qua làm việc, bị cáo L đã khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

+ 01 (một) gói nylon được hàn kín hai đầu, kích thước (01 x 03)cm, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng;

+ 01 (một) xe mô tô Exciter màu xanh trắng biển kiểm soát 93M1- 143.16;

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen;

+ Số tiền 480.000 đồng (Bốn trăm tám mươi nghìn đồng).

Theo Kết luận giám định số: 89/2018/GĐKTHS ngày 04/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) gói nilon được niêm phong trong bì thư (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Tên gọi Methamphetamine; Trọng lượng 0,3598 gam (không phẩy ba năm chín tám gam)”.

Tại bản cáo trạng số 32/CTr -VKS ngày 01/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Nguyễn K L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn K L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn K L mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ các điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

+ Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong có trọng lượng là: 0,1393 gam.

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn K L: 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen.

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn K L: Số tiền 480.000 đồng (Bốn trăm tám mươi nghìn đồng).

+ Trả lại cho ông Nguyễn H H 01 (một) xe mô tô Exciter màu xanh trắng biển kiểm soát 93M1 - 143.16.

Ý kiến của bị cáo Nguyễn K L tại phiên tòa: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, quá trình tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn H H, bà Trần Thị Tú T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Xét thấy, quá trình điều tra, truy tố ông H, bà T không có yêu cầu gì, sự vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử; Do đó căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đồng Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn K L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 32/CTr -VKS ngày 01/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với bị cáo.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng vụ án đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa, phù hợp kết luật của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 08 giờ, 00 phút ngày 21/3/2018, Nguyễn K L đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cất giấu trong người để sử dụng, trọng lượng 0,3598gam Methamphetamine ma túy đá tại đường D1 thuộc khu phố B K, thị trấn T Ph, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi mà bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và trật tự trị an tại địa phương, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn K L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng điều khoản quy định của pháp luật.

Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Song vì động cơ cá nhân muốn ăn chơi, hưởng thụ, bản thân bị cáo là một thanh niên nhưng không lo làm ăn mà lại dấng thân vào con đường tệ nạn xã hội, do đó bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội như đã phân tích ở trên. Vì vậy, cần xử bị cáo mức án nghiêm, bằng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội sau này và nhằm đấu tranh phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5] Đối với hành vi bán trái phép chất ma túy của đối tượng tên Hải, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đồng Phú chưa xác minh được nhân thân lai lịch, nên đã tách ra xử lý sau do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn H H là người cho Nguyễn K L mượn xe mô tô biển kiểm soát 93M1 - 143.16 nhưng Hiếu không biết Lp sử dụng vào mục đích phạm tội, Viện kiểm sát không đề cập đến việc xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chiếc điện thoại Mobell màu đỏ bên trong có sim số 0977.760.725 mà Nguyễn K L dùng để liên lạc với đối tượng tên H1 mua ma túy nhưng sau đó đã bị mất chưa thu hồi được nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã tách ra xác minh xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Vật chứng vụ án:

- Đối với trọng lượng ma túy 0,1393 gam còn lại sau giám định là vật chứng vụ án cần tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen là tài sản của bị cáo Nguyễn K L không sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Đối với số tiền 480.000 đồng (Bốn trăm tám mươi nghìn đồng) là tài sản riêng của bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên cần tuyên quản thủ số tiền trên để đảm bảo thi hành án.

+ Đối với 01 (một) xe mô tô Exciter màu xanh trắng biển kiểm soát 93M1 - 143.16 là tài sản của anh Nguyễn H H, anh H không biết được việc bị cáo mượn xe để đi mua ma túy nên cần tuyên trả lại cho anh Nguyễn H H theo quy định tại điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7]Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, truy tố ông Nguyễn H H, bà Trần Thị Tú T, ông Đặng Mạnh P không có ý kiến yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét. Tại phiên tòa ông H, bà T, ông P vắng mặt nên cần tách ra để giải quyết bồi thường bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

[8]Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu thập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn K L phải chịu theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn K L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn K L: 01 năm 06 tháng tù (Một năm sáu tháng tù). Thời hạn tù được tính từ ngày 10/5/2018.

3. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

3.1. Tịch thu tiêu huỷ: 0,1393 gam ma túy còn lại sau giám định.

3.2. Trả lại cho bị cáo Nguyễn K L: 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen;

3.3. Tuyên quản thủ số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn K L tại Chi cục THADS huyện Đồng Phú để đảm bảo thi hành án. Còn lại 280.000đ trả cho bị cáo L.

3.4. Trả lại cho ông Nguyễn H H: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 93M1-143.16; Số khung RLCE 55P10EY442066, số máy 55P1442090.

4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn K L phải nộp 200.000đồng.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

178
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2018/HSST ngày 29/08/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:36/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đồng Phú - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/08/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về