Bản án 36/2018/HS-ST ngày 29/06/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂNTHỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 36/2018/HS-ST NGÀY 29/06/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 29 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

NGUYỄN QUỐC P (Tên khác: S). Sinh năm 1992 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 10, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12.

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Nguyễn C, sinh năm 1959 và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1953;

Vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Ngày 04/4/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã L xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 22/2016/HSST. Đến ngày 29/01/2018, chấp hành xong hình phạt tù (Giấy chứng nhận số 120/GCN của Giám thị trại giam Sông Cái).

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 23/3/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã L xử phạt 05 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 12/2010/HSST. Đến ngày 07/01/2013, chấp hành xong hình phạt tù. (Giấy chứng nhận số 33/GCN của

Giám thị trại giam Thủ Đức).

Bị cáo hiện đang tại ngoại (Có mặt).

* Người làm chứng:

- Anh Phan Đình S, sinh ngày 20/01/2000 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố 5, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Chị Nguyễn Thị U, sinh năm 1996 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố 9, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Chị Lâm Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1999 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn Hiệp An, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Anh Nguyễn Hoài P, sinh năm 1998 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố 3, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Chị Kiều Thị Kim N, sinh ngày 21/3/2000 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố 3, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Anh Sơn Vũ L, sinh năm 1999 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố 3, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 10/4/2018, qua kiểm tra tại phòng số 5 quán Karaoke A (thuộc Khu phố 3, phường T, thị xã L), Đội cảnh sát điều tra tội phạm Kinh tế - Ma túy Công an thị xã L phát hiện một nhóm người: Nguyễn Quốc P, Phan Đình S, Nguyễn Thị U, Sơn Vũ L, Lâm Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Hoài P và Kiều Thị Kim N, trong đó có S, U, L, Q đang sử dụng ma túy đá, còn đối tượng Nguyễn Quốc P đang cất giữ 01 (một) gói nylon được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt để phía sau chỗ ngồi của P. P khai nhận đó là gói ma túy đá mua từ người tên C với giá 1.900.000 đồng tại khu vực trường tiểu học P 3, TX. L, mục đích cất giữ để sử dụng cho bản thân. Tại hiện trường, lực lượng cảnh sát điều tra thu giữ 01 (một) gói nylon mà P đang cất giữ; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) ống thủy tinh cong, 01 (một) chai nhựa Lavie, 01 (một) ống hút nước giải khát và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi của Nguyễn Quốc P mà P khai đây là phương tiện liên lạc với C để mua ma túy.

Theo như lời trình bày của bị cáo Nguyễn Quốc P thì vào khoảng 20 giờ ngày 10/4/2018, P dùng điện thoại nhãn hiệu Xiaomi gọi cho một người tên Chó (P khai

không biết tên tuổi, địa chỉ của người này) để hỏi mua ma túy đá với số tiền 1.900.000 đồng. C đồng ý bán cho P và hẹn gặp ở gần Trường tiểu học P 3. Khoảng 21 giờ cùng ngày, tại chỗ hẹn P đưa cho C 1.900.000 đồng, C đưa lại cho P một gói ma túy đá. Sau đó, P đi về chợ L ăn trái cây và gọi điện thoại cho Phan Đình S hỏi đang ở đâu. Nghe S nói đang hát Karaoke A ở phòng số 5 và rủ lên chơi thì P đồng ý. P thuê xe ôm chở đến quán Karaoke A, vào phòng số 5 thì gặp S và nhóm bạn gồm S, U, L, Q đang sử dụng ma túy đá. Khi vào phòng được khoảng 05 phút thì lực lượng Công an vào kiểm tra, thấy vậy P bỏ gói ma túy đá ra phía sau chỗ P ngồi nhưng bị Công an phát hiện và thu giữ.

Quá trình điều tra, Phan Đình S; Nguyễn Thị U; Sơn Vũ L; Lâm Nguyễn Xuân Q; Nguyễn Hoài P; Kiều Thị Kim N đều khai nhận nội dung thống nhất với nhau như sau: Vào ngày 10/4/2018, tại phòng số 5 quán Karaoke A, S; U; L và Q cùng sử dụng ma túy bằng bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá do U đem từ bên ngoài vào phòng. Khoảng 20 phút sau, Nguyễn Hoài P và Kiều Thị Kim N vào phòng nhưng không tham gia sử dụng ma túy. Sau đó khoảng 15 phút thì Nguyễn Quốc P vào phòng chơi, một lúc sau, lực lượng Công an vào kiểm tra và thu giữ tại chỗ ngồi của Nguyễn Quốc P 01 gói ma túy nên Công an lập biên bản, đưa những người liên quan và tang vật về trụ sở làm việc.

Qua lời trình bày của bị cáo P về đối tượng tên C bán ma túy, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ đối tượng nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

Tại bản kết luận giám định số: 313/GĐ-PC54 ngày 12/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận thể hiện:

- Đối tượng giám định: 01 (một) phong bì được niêm phong còn nguyên vẹn, có chữ ký mang tên: Nguyễn Quốc P, Trần Nguyễn Đăng Khoa, hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị xã L; Trong phong bì có 01 (một) gói nylon được hàn kín chứa tinh thể màu trắng bên trong (ký hiệu M).

- Kết luận giám định: Mẫu M gửi đến giám định có khối lượng 2,4064 gam; là Methamphetamine.

- Hoàn lại mẫu vật gửi đến giám định: 01 (một) gói nylon đã cắt lấy mẫu và 2,2678 gam mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 313, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.

Về vật chứng vụ án: Là 01 (một) gói nylon đã cắt lấy mẫu và 2,2678 gam mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 313 ngày 12/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm: 01 ống thủy tinh cong, 01 chai nhựa Lavie, 01 ống hút nước giải khát) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi thu giữ của bị cáo P đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã L chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thị xã L theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2018.

Sau khi phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân bị cáo; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L giữ quyền công tố kết luận:

Khoảng 22 giờ ngày 10/4/2018, tại phòng số 5 quán Karaoke A thuộc Khu phố 3, phường T, thị xã L, Đội cảnh sát điều tra tội phạm Kinh tế - Ma túy Công an thị xã L bắt quả tang bị cáo Nguyễn Quốc P có hành vi cất giấu 01 gói nylon chứa Methamphetamine, có khối lượng là 2,4064 gam để sử dụng cho bản thân.

Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng số: 42/CT-VKS ngày 24/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã L truy tố bị cáo Nguyễn Quốc P, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc P, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm h Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Phạt bị cáo Nguyễn Quốc P, mức án từ: 24 – 30 tháng tù.

Biện pháp tư pháp: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nylon đã cắt lấy mẫu và 2,2678 gam mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 313 ngày 12/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận;

+ Tịch thu tiêu hủy 01 ống thủy tinh cong, 01 chai nhựa Lavie, 01 ống hút nước giải khát (dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá).

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi.

- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Quốc P: Đồng ý với nội dung luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nên không có ý kiến tranh luận.

* Bị cáo Nguyễn Quốc P nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt những người làm chứng. Ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt của những người làm chứng. Xét thấy, việc vắng mặt người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử vì lời khai của họ đã khai đầy đủ thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

 [2] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quốc P đều thừa nhận vào khoảng 22 giờ ngày 10/4/2018, tại phòng số 5 quán Karaoke A thuộc Khu phố 3, phường T, thị xã L, Nguyễn Quốc P đang tàng trữ 01 gói (một) nylon chứa Methamphetamine (01 gói nylon này được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng trong suốt) thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm Kinh tế - Ma túy Công an thị xã L bắt quả tang. Qua trưng cầu giám định, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận tiến hành giám định và kết luận: 01 (một) gói nylon được hàn kín chứa tinh thể màu trắng bên trong, có khối lượng 2,4064 gam; là Methamphetamine (tại bản kết luận giám định số 313/GĐ-PC54 ngày 12/4/2018). Mặt khác, bị cáo P không xuất trình được Giấy phép hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý, vì vậy hành vi tàng trữ 01 (một) gói nylon được hàn kín chứa tinh thể màu trắng bên trong, có khối lượng 2,4064 gam là Methamphetamine, là trái phép.

Từ những phân tích, đánh giá trên, đối chiếu với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở và căn cứ pháp lý để Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 10/4/2018, tại phòng số 5 quán Karaoke A thuộc Khu phố 3, phường T, thị xã L, Nguyễn Quốc P có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói nylon được hàn kín hai đầu, có chứa tinh thể màu trắng bên trong, có khối lượng 2,4064 gam là Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”, như vậy, hành vi trên của bị cáo Phong đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã L truy tố đối với bị cáo Nguyễn Quốc P về tội danh, điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

 [3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi mà bị cáo Phong thực hiện là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Ma túy hủy hoại sức khỏe của bản thân người nghiện, đồng thời là tiền đề của nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Xét thấy, địa bàn thị xã L tình hình tội phạm ma túy diễn biến hết sức phức tạp, do đó, cần phải xử lý nghiêm khắc bị cáo Nguyễn Quốc P không chỉ nhằm mục đích trừng trị hành vi phạm pháp của bị cáo, cải tạo và giáo dục bị cáo Quốc trở thành công dân sống lành mạnh, có ích cho xã hội mà còn để lập lại trật tự công cộng, phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

 [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo P đã có một tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 29/01/2018 nhưng chưa được xóa án tích thì bị cáo tiếp tục phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đây thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, phải áp dụng tình tiết này để xử lý nghiêm khắc, tương xứng với hành vi tái phạm của bị cáo P.

Đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo P khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

 [5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cầm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, vẫn phụ thuộc kinh tế vào gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

 [6] Về xử lý vật chứng: Là 01 (một) gói nylon đã cắt lấy mẫu và 2,2678 gam mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 313, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự

- Công an tỉnh Bình Thuận; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 ống thủy tinh cong, 01 chai nhựa Lavie, 01 ống hút nước giải khát là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi thu giữ của Nguyễn Quốc P mà Phong khai là phương tiện để liên lạc với người bán ma túy là phương tiện liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

 [7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc P (tên gọi khác: S) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P 02 (hai) năm tù, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/4/2018 đến ngày 13/4/2018 (03 ngày), thời hạn bị cáo Phong còn phải chấp hành hình phạt tù là 01 (một) năm 11 (mười một) tháng 27 (hai bảy) ngày; Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nylon đã cắt lấy mẫu và 2,2678 gam mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 313, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận;

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 ống thủy tinh cong, 01 chai nhựa Lavie, 01 ống hút nước giải khát là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ.

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi.

 (Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã L theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2018 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Quốc P có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/6/2018).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


49
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2018/HS-ST ngày 29/06/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:36/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện La Gi - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về