Bản án 36/2017/HNGD-ST ngày 28/07/2017 về tranh chấp ly hôn,nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ-TP. ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 36/2017/HNGD-ST NGÀY 28/07/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 28 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 72/2017/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 04 năm 2017 về việc "Ly hôn, nuôi con chung" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2017/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2017, Quyết định hoãn phiên tòa số 51 ngày 14.7.2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Hoài N - Sinh năm: 1991.

Trú tại: Khu dân cư số 4, thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Q. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Ngô Văn Q - Sinh năm: 1990.

Trú tại: Tổ 27A đường P, Phường T, Quận S, TP Đà Nẵng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện,bản tự khai tại Toà án nhân dân quận Sơn Trà cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Phạm Hoài N trình bày: Bà Phạm Hoài N và ông Ngô Văn Q chung sống với nhau vào năm 2011. Hôn nhân của chúng tôi trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, quận S, TP. Đà Nẵng. Vợ chồng sống hạnh phúc năm 2013 thì mâu thuẫn phát sinh. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình và quan điểm sống không hợp nhau, vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Ông Q ham chơi không có trách nhiệm với gia đình, con cái , nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích, cãi vả, xúc phạm nhau. Vợ chồng chấm dứt mọi quan hệ từ năm 2013 đến nay. Nay về mặt tình cảm bà N xác định không còn yêu thương ông Q nữa nguyện vọng yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn.

+ Về quan hệ con chung: bà Phạm Hoài N xác định có 1con: Ngô Phạm Huyền T- sinh ngày: 10.8.2011 Ly hôn bà N có có nguyện vọng xin được nuôi con không yêu cầu ông Qcấp dưỡng.

+ Về tài sản chung: Bà Phạm Hoài N xác định không có.

+ Về nợ chung: Bà N xác định không có.

Bị đơn ông Ngô Văn Q vắng mặt nên không có ý kiến của ông tại hồ sơ vụ án

* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:

- Đối với việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử. Thẩm phán, thư ký tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng.

Đối với HĐXX: Tại phiên tòa HĐXX thực hiện đúng về nguyên tắc xét xử và thành phần HĐXX theo quy định của Bộ Luật tố tụng

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và đã chấp hành đúng quy định, bị đơn chấp hành chưa đầy đủ khi Tòa án có yêu cầu .

Căn cứ vào Điều 51, 56,81 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX tuyên:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Phạm Hoài N đối với ông Ngô Văn Q.

Về con chung: Giao con Ngô Phạm Huyền T - sinh ngày: 10.8.2011 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

* Về thủ tục: Tại phiên toà, bị đơn ông Ngô Văn Q vắng mặt lần thứ hai nên căn cứ khoản Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông.

* Về nội dung Bà Phạm Hoài N và ông Ngô Văn Q chung sống với nhau vào năm 2011. Hôn nhân của chúng tôi trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường M,quận S,TPĐN. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Vợ chồng sống hạnh phúc năm 2013 thì mâu thuẫn phát sinh. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình và quan điểm sống không hợp nhau. Mặt khác ông Q ham chơi không có trách nhiệm với gia đình, con cái, nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích, cãi vả, xúc phạm nhau. Vợ chồng chấm dứt mọi quan hệ từ năm 2013 đến nay. Nay về mặt tình cảm bà N xác định không còn yêu thương ông Q nữa nguyện vọng yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn. Đối với ông Ngô Văn Q tòa án đã triệu tập nhiều lần đến hòa giải nhưng ông vẫn vắng mặt.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà N thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng có niềm tin và tình yêu, sự thông cảm và chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng ngược lại đến nay cả hai ông bà đã không còn giữ được điều này. Thời gian từ 2013 đến nay vợ chồng đã tự sống ly thân nhau càng tăng thêm rạn nứt tình cảm vợ chồng do đó, có níu kéo cũng không đem lại kết quả gì. Đối với ông Q tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhiều lần ông đều vắng mặt thể hiện ý thức không chấp hành pháp luật cũng như bỏ mặc níu kéo đối với quan hệ hôn nhân của mình.

Xét thấy mâu thuẫn của bà Nvà ông Q đã thật sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N là phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

* Về con chung: Bà Phạm Hoài N xác định có 1con Ngô Phạm Huyền T - sinh ngày: 10.8.2011.Ly hôn bà N có nguyện vọng xin được nuôi con không yêu cầu ông Q cấp dưỡng.

Xét yêu cầu xin được nuôi con của bà N thì thấy hiện tại cháu Ngô Phạm Huyền T đang sống ổn định cùng với bà N và phát triển tốt về thể chất cũng như tinh thấn, do vậy thấy không cần xáo trộn cuộc sống của cháu nên cần tiếp tục giao cháu Huyền T cho bà N nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.Về cấp dưỡng nuôi con bà N không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nên không đề cập đến.

* Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Hoài N xác định không có. Tuy nhiên ông Q vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến của ông về vấn đề tài sản chung và nợ chung, để đảm bảo quyền lợi các đương sự HĐXX không đề cập đến nếu sau này các bên đương sự nếu có yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và các Điều 56, 58, 81 Luật Hôn Nhân và Gia Đình Việt Nam. Chấp nhận đơn khởi kiện của Bà Phạm Hoài Nđối với ông Ngô Văn Q.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Hoài N được ly hôn ông Ngô Văn Q.( Do chấp nhận yêu cầu ly hôn bà Nđối với ông Q nên Giấy chứng nhận kết hôn số 22 do UBND phường M cấp ngày 10.3.2011không còn giá trị pháp lý).

2. Về con chung: Giao cháu Ngô Phạm Huyền T - sinh ngày: 10.8.2011 cho bà Phạm Hoài N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Các bên vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích con chung của con các bên có quyền xin thay đổi người nuôi con, trợ cấp nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.

4. Án phí HNGĐ-ST: 300.000đ bà N phải chịu (được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp taị Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng theo Biên lai thu số 9005 ngày 25 tháng 4 năm 2017).

Án xử công khai sơ thẩm bà N biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng ông Q vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết trích sao kết quả phiên tòa.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.


50
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 36/2017/HNGD-ST ngày 28/07/2017 về tranh chấp ly hôn,nuôi con chung

    Số hiệu:36/2017/HNGD-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Sơn Trà - Đà Nẵng
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:28/07/2017
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về