Bản án 36/2017/DS-ST ngày 13/09/2017 về tranh chấp quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH B

BẢN ÁN 36/2017/DS-ST NGÀY 13/09/2017 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Ngày 13 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2016/TLST – DS, ngày 03 tháng 02 năm 2016 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2017/QĐXX-ST ngày 24 tháng 4 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyeân ñôn: Anh Đào Chí T, sinh năm 1989

Địa chỉ: ấp Cái K, xã An P, huyện H, tỉnh B

Bị đơn: bà Hồ Thị T1, sinh năm 1956

Địa chỉ: ấp Cái K, xã An P, huyện H, tỉnh B

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Đặng Thị A, sinh năm 1975

2. Anh Hồ Văn Đ, sinh năm 1971

3. Hồ Ngọc G, sinh năm 1999, ủy quyền cho anh Hồ Văn Đ tham gia tố tụng (theo văn bản ủy quyền ngày 10/4/2017)

Cùng địa chỉ: ấp Cái K, xã An P, huyện H, tỉnh B

4. Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh B: Ông Nguyễn Xuân T - Phó chủ tịch (theo văn bản ủy quyền ngày 12/12/2016).

5. Ủy ban nhân dân xã An Phú, huyện H: Người đại diện ông Phạm Minh T – Chủ tịch.

(Anh T, bà T1, anh Đ, chị A có mặt; đại diện UBND huyện H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/11/2015, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 18/7/2016 và các lời khai trong quá trình tố tụng anh Đào Chí T trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp trước đây là của bà Trần Thị R chuyển nhượng cho mẹ anh là bà Lâm Thị A vào năm 2001. Sau khi nhận chuyển nhượng bà A làm thủ tục sang tên và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 19/7/2001 tại thửa số 0025 tờ bản đồ số 11, có tổng diện tích 42.500m2 (bản đồ địa chính 299). Đến ngày 30/7/2013 bà A tặng cho lại anh phần đất này. Khoảng tháng 9/2013 anh thuê người đo đạc lại phần đất thì anh biết bà T1 đã lấn chiếm đất của anh nên anh làm đơn khởi kiện đến Tòa án, yêu cầu bà T1 giao trả phần đất qua kết quả đo đạc thực tế có diện tích là 2.914.3m2. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Theo ý kiến của bà T1 trình bày: bà xác định nguồn gốc phần đất này là do bà nhận chuyển nhượng của người khác cách đây hơn 20 năm. Đến năm 1996 bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bà quản lý sử dụng ổn định đến nay. Bà xác định trong quá trình sử dụng đất, bà có thuê sáng dây cuốc đường bờ, thì ông Bảo (cha anh T) không có tranh chấp, bà sử dụng ổn định. Đến khi T khởi kiện thì bà cũng không biết lý do vì sao tranh chấp. Nay bà xác định đây là phần đất của bà nên không đồng ý giao trả đất theo yêu cầu của anh T.

Bà T1 yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 0025, tờ bản đồ số 11 diện tích 2.914.3m2 do anh Đào Chí T đứng tên.

Bà T1 trình bày thêm: phần đất tranh chấp bà có cho anh Hồ Văn Đ và chị Đặng Thị A thuê vào năm 2010, với giá 50.000.000đ/1 năm, tiền thuê đất trả theo từng năm. Hiện nay giữa bà và anh Đ, chị A không có tranh chấp gì, bà và anh Đ, chị A vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê đất.

Theo ý kiến của anh Hồ Văn Đ và chị Đặng Thị A trình bày: anh chị thống nhất xác định anh chị thuê đất của bà T1 từ khoảng năm 2010 đến nay. Khi bà T1 cho thuê đất thì không làm giấy tờ gì, cũng không thỏa thuận thời hạn thuê đất là bao lâu, thuê đất trả tiền theo từng năm, mỗi năm trả 50.000.000đ, tiền thuê đất năm 2016 anh chị đã trả cho bà A xong. Nay anh chị yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê đất với bà T1. Anh không có ý kiến gì khác.

Ý kiến của chị Hồ Ngọc G trình bày: chị thống nhất với lời trình bày của anh Hồ Văn Đ và chị Đặng Thị A.

Đại diện Ủy ban nhân dân huyện H trình bày: trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lâm Thị A tại thửa số 0025, tờ bản đồ số 11, đất tọa lạc tại ấp Cái K, xã An P, huyện H, tỉnh B là phù hợp với trình tự, thủ tục chuyển quyền sử dụng đất tại thời điểm cấp năm 2001.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh B phát biểu quan điểm cho rằng: quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đào Chí T đối với bà Hồ Thị T1.

Buộc bà Hồ Thị T1, anh Hồ Văn Đ, chị Đặng Thị A và chị Hồ Ngọc G giao trả cho anh Đào Chí T phần đất diện tích 2.914,3m2.

Không chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị T1, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Đào Chí T.

Đình chỉ giải quyết yêu cầu của anh Đào Chí T yêu cầu bà Hồ Thị T1 bồi thường chí phí cài tạo bờ ranh.

Về chí phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, lệ phí pho tô hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh Đào Chí T đã dự nộp số tiền 1.060.000đ đã chi hết. Buộc bà Hồ Thị T1 có trách nhiệm giao trả lại cho anh Đào Chí T.

Về án phí dân sự có giá ngạch 5% bà Hồ Thị T1 phải nộp số tiền: 6.120.000đ;

Anh Đào Chí T không phải nộp án phí, anh T đã dự nộp số tiền 200.000đ ngày 03/02/2016 theo biên lai thu số 0000775 được hoàn lại đủ. Các đương sự nhận và nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: đại diện Ủy ban nhân dân huyện H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, tiến hành xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.

[2] Về nội dung: Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/11/2015 và đơn khởi kiện bổ sung  đề ngày 18/7/2016 anh Đào Chí T yêu cầu bà Hồ Thị T1 giao trả phần đất tọa lạc tại ấp Cái K, xã An P, huyện H, tỉnh B, có vị trí cụ thể sau:

- Cạnh hướng Đông giáp phần đất ông Lương văn Đức, cạnh dài 14m

- Cạnh hương Tây giáp phần đất ông Phan Văn Luông, anh Đào Chí T đang sử dụng, cạnh dài 2.0m

- Cạnh hướng Nam giáp phần đất anh Đào Chí T, cạnh dài 479,3m

- Cạnh hướng Bắc giáp phần đất bà Hồ Thị T1, cạnh dài 161,9m + 317,1m

Diện tích chung: 2.914,3m2.

Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 265285 được Ủy ban nhân dân huyện Giá Rai cấp ngày 19/7/2001 và một số người làm chứng như: anh Võ Văn T1, bà Trần Thị R, ông Nguyễn Văn T.

Chứng cứ do bị đơn cung cấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 471184 được Ủy ban nhân dân huyện Giá Rai cấp cho bà Hồ Thị T1 ngày 01/6/1996 và một số người làm chứng như: ông Lương Văn Đ, ông Phan Thanh H, ông Phạm Văn L, ông Trương Văn T, ông Lê Quốc A, bà Phan Thị D, ông Võ Văn T1, ông Văn T, ông Lương Quốc C.

Xét yêu cầu của nguyên đơn anh Đào Chí T: yêu cầu bà Hồ Thị T1 giao trả phần đất diện tích 2.914.3m2.

Hội đồng xét xử xét thấy, lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với Bản trích đo thửa đất tranh chấp ngày 18/7/2016 của Phòng Tài nguyên và môi trường huyện H xác định phần đất tranh chấp có diện tích 2.914.3m2 nằm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng của bà Lâm Thị A tại thửa số 0025 tờ bản đồ số 11 được Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho bà Lâm thị A năm 2001 đến năm 2013 bà A cho lại anh Đào Chí T. Mặc dù, trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Trần Thị R được cấp diện tích là 42.500m2  và chuyển nhượng cho bà Lâm Thị A cũng là diện tích 42.500m2. Tuy nhiên, tại thời điểm cấp giấy cho bà Lâm Thị A là không qua kiểm tra, đo đạc hiện trạng sử dụng thực tế mà chỉ làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất từ bà Trần Thị R sang cho bà Lâm Thị A. Do đó, cũng có những sai sót diện tích đất thực tế sử dụng. Đồng thời, theo sổ mục kê đất đai mã 960, quyển số 01 và sổ địa chính thể hiện phần đất thực tế anh Đào Chí T sử dụng có diện tích 47.889,9m2. Đại diện Phòng Tài nguyên và môi trường huyện H xác định, sổ mục kê đất đai năm 2006 được lập theo bản đồ chính quy, đo theo hệ tọa độ VN2000 nên mức độ chính xác cao, diện tích thể hiện là diện tích thực tế các hộ dân sử dụng. Như vậy, qua kết quả đo đạc thực tế ngày 29/6/2016 phần đất anh Đào Chí T đang sử dụng có diện tích 43.268,0m2 là vẫn còn thiếu so với diện tích thực tế sử dụng theo bản đồ chính quy 2006.

Phía bị đơn bà Hồ Thị T1 xác định phần đất tranh chấp là của bà. Tuy nhiên, như trên đã phân tích, thì phần đất tranh chấp không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng của bà. Trong khi đó, bà là người kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng năm 1996 là trước so với bà Lâm Thị A, cấp năm 2001. Mặc dù trên thực tế phần đất bà đang sử dụng có diện tích ít hơn so với diện tích được cấp giấy. Tuy nhiên, đại diện Ủy ban nhân dân huyện H xác định thời điểm cấp giấy năm 1995 là cấp đại trà, không qua kiểm tra, đo đạc hiện trạng sử dụng đất thực tế nên dẫn tới một số trường hợp có sai sót chồng lấn ranh giới, chênh lệch diện tích sử dụng … Ngoài ra, bà có cung cấp cho Tòa án một số người làm chứng như ông Võ Văn T1 và ông Võ Văn T xác định khoảng năm 2009 giữa ông Đào Hồng Phước là cha ruột của anh Đào Chí T và bà Hồ Thị T1 có tranh chấp. Tuy nhiên, ông không xác định được là đất của ai; ông Lương Quốc Chiều, ông Phan Thanh Hùng, bà Phan Thị Diệu, ông Lê Quốc An, ông Võ Văn Hết xác định bà T1 là người trực tiếp sử dụng đất; ông Trương Văn Thanh, ông Lương Văn Đức xác định phần đường bờ tranh chấp là của bà T1, phía anh T không còn bờ nữa do ông Bảo (ông Phước cha anh T) đã đưa xe cuốc và múc hết phần đường bờ . . . Qua lời trình bày của những người làm chứng nêu trên chưa R ràng và không có đủ căn cứ để chấp nhận.

Tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì phải chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Trong vụ án này, anh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T1 giao trả phần đất. Anh cung cấp cho Tòa án giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Lâm Thị A được cấp hợp pháp và từ những phân tích nêu trên có cơ sở để chấp nhận nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đào Chí T.

Do trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lâm Thị A tại thửa 0025, tờ bản đồ số 11, cấp năm 2001 (nay tặng cho anh Đào Chí T) là phù hợp với quy định của pháp luật nên không chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị T1 yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lâm Thị A.

Đối với yêu cầu bà T1 bồi thường chi phí cải tạo ranh bờ số tiền 10.000.000đ.

Anh Đào Chí T đã rút lại yêu cầu này nên đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của anh T.

Đối với hợp đồng thuê đất giữa bà Hồ Thị T1 và chị Đặng Thị A và anh Hồ Văn Đ. Các đương sự thống nhất không tranh chấp, vẫn yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng nên không đặt ra xem xét.

Về chí phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, lệ phí pho tô hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà Hồ Thị T1 phải chịu. Anh Đào Chí T đã dự nộp số tiền 1.060.000đ đã chi hết. Bà Hồ Thị T1 có trách nhiệm giao trả lại cho anh T.

Đất nuôi trồng thủy sản có giá trị 42.000đ/1m2.

Về án phí dân sự có giá ngạch 5% bà Hồ Thị T1 phải nộp số tiền: 2.914,3m2 x 42.000đ = 122.400.600đ x 5% = 6.120.000đ; Anh Đào Chí T không phải nộp án phí, anh T đã dự nộp số tiền 200.000đ ngày 03/02/2016 theo biên lai thu số 0000775 được hoàn lại đủ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 217, Điều 218, Khoản 1 Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 203 Luật đất đai

Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đào Chí T đối với bà Hồ Thị T1.

Buộc bà Hồ Thị T1, anh Hồ Văn Đ, chị Đặng Thị A và chị Hồ Ngọc G giao trả cho anh Đào Chí T phần đất diện tích 2.914,3m2 (trong đó tạm giao 34.1m2 thuộc kênh thủy lợi, nay đã lạng thành bờ” tọa lạc tại ấp Cái K, xã An P, huyện H, tỉnh B, tại thửa số 0025, tờ bản đồ số 11 (bản đồ 299) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lâm Thị A tặng cho anh Đào Chí T, có vị trí cụ thể sau:

- Cạnh hướng Đông giáp phần đất ông Lương văn Đức, cạnh dài 14m

- Cạnh hương Tây giáp phần đất ông Phan Văn Luông, anh Đào Chí T đang sử dụng, cạnh dài 2.0m

- Cạnh hướng Nam giáp phần đất anh Đào Chí T, cạnh dài 479,3m

- Cạnh hướng Bắc giáp phần đất bà Hồ Thị T1, cạnh dài 161,9m + 317,1m

Không chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị T1, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 0025, tờ bản đồ số 11 diện tích 2.914.3m2 được Ủy ban nhân dân huyện Giá Rai cấp cho bà Lâm Thị A, được tặng cho anh Đào Chí T năm 2013.

Đình chỉ giải quyết yêu cầu của anh Đào Chí T yêu cầu bà Hồ Thị T1 bồi thường chí phí cài tạo bờ ranh.

Về chí phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, lệ phí pho tô hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh Đào Chí T đã dự nộp số tiền 1.060.000đ đã chi hết. Buộc bà Hồ Thị T1 có trách nhiệm giao trả lại cho anh Đào Chí T.

Về án phí dân sự có giá ngạch 5% bà Hồ Thị T1 phải nộp số tiền: 6.120.000đ;

Anh Đào Chí T không phải nộp án phí, anh T đã dự nộp số tiền 200.000đ ngày 03/02/2016 theo biên lai thu số 0000775 được hoàn lại đủ. Các đương sự nhận và nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án niêm yết công khai nơi cư trú.


65
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2017/DS-ST ngày 13/09/2017 về tranh chấp quyền sử dụng đất

Số hiệu:36/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hớn Quản - Bình Phước
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về