Bản án 359/2019/HS-PT ngày 27/06/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 359/2019/HS-PT NGÀY 27/06/2019 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 166/2019/TLPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Xuân S do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2019/HS-ST ngày 26/02/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Xuân S, sinh năm 1991 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp S, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên chúa. Nghề nghiệp: Không. Học vấn: 9/12. Con ông: Nguyễn Xuân Q, sinh năm: 1960. Con bà: Mai Thị Q1, sinh năm 1966. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 5/10/2018, hiện đang tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Lâm Đồng (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân S theo yêu cầu của Tòa án: Luật sư Trương Phúc A – Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

(Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Xuân S ở huyện L, tỉnh Đồng Nai, có mối quan hệ quen biết với ông Lê Văn T ở phường 9, thành phố Đ, vào khoảng đầu tháng 11/2017 S vay của ông T số tiền là 160.000.000đ và thế chấp cho ông T 01 chiếc xe ô tô biển số 60A-017 22 (Là xe S thuê ở Đồng Nai) nhưng S nói với ông T là xe của S. Sau khi cho S vay tiền, ông T đã nhiều lần yêu cầu S trả nợ nhưng S không trả. Sau đó Nguyễn Xuân S đến thị trấn Đ1, huyện L mở quán bán cà phê. Do có mối quan hệ quen biết với Trương Ngọc T1 ở ấp 2B, xã X, huyện X1, tỉnh Đồng Nai nên S gọi điện thoại rủ Trương Ngọc T1 đến L chơi và tìm việc làm. Khoảng 19 giờ ngày 21/11/2017, Trương Ngọc T1 đến Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ ô tô P ở thành phố B, tỉnh Đồng Nai gặp chị Nguyễn Trần Mỹ C là giám đốc Công ty và anh Lê Thanh H là chồng chị C, để thuê 01 xe ô tô 05 chỗ ngồi của công ty và được vợ chồng chị C đồng ý, T1 và chị C ký hợp đồng cho thuê xe ô tô tự lái, nội dung hợp đồng: T1 thuê 01 xe ô tô biển số 60A- 19621 của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ P với giá thuê xe 1.000.000đ/ngày, thời gian thuê xe 05 ngày (Từ ngày 21 đến ngày 26/11/2017) T1 đặt cọc số tiền 10.000.000đ. Ký kết xong hợp đồng, chị C giao xe cho T1. Sau khi thuê được xe, T1 điều khiển xe ô tô biển số 60A-19621 chở bạn lên Lâm Đồng và đến quán cà phê WindoWn tại thị trấn Đ1, huyện L do S làm chủ. T1 và bạn T1 nghỉ lại quán của S đến 8 giờ sáng ngày 22/11/2017, S mượn xe của T1 nói đi công chuyện, T1 đồng ý giao xe cho S nhưng không đưa giấy tờ xe. S điều khiển xe lên Đ để vay tiền để trả tiền thế chấp xe 60A-01722 nhưng không được nên S đã thế chấp chiếc xe 60A-19621 cho ông Lê Văn T và lấy chiếc xe 60A-01722 về để trả cho người chủ sở hữu tại Đồng Nai do chiếc xe này đã hết hạn thuê.

Chiều 22/11/2017 Trương Ngọc T1 nhiều lần gọi đện cho S để đòi xe ô tô nhưng S nói công việc giải quyết chưa xong. Những ngày sau đó T1 tiếp tục gọi đện thoại cho S để đòi xe ô tô nhưng S không nghe máy, đồng thời S thay đổi số điện thoại và bỏ trốn đến huyện P, tỉnh Kiên Giang.

Đến ngày 05/10/2018, Nguyễn Xuân S đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo biên bản định giá ngày 08/12/2017 Hội đồng định giá tài sản huyện L kết luận: Xe ô tô biển số 60A-19621 có giá trị là 733.500.000đ.

Cơ quan điều tra công an huyện L đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu theo quyết định xử lý đồ vật, tài liệu và biên bản về việc trả lại tài sản ngày 15,16 tháng 12/2017.

Đi với ông Lê Văn T bị thiệt hại số tiền là 160.000.000đ. Ngày 08/10/2018 ông Nguyễn Xuân Q (Bố bị cáo) đã trả cho ông T số tiền là 80.000.000đ. Số tiền còn lại là 80.000.000đ, ông T yêu cầu Nguyễn Xuân S phải hoàn trả lại, S đã đồng ý trả lại ông T số tiền trên. Ông T không có yêu cầu tố cáo gì đối với S.

Tại bản án hình sự sơ thẩm 02/2019/HS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2019 Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm b, s, khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân S 10 (Mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/10/2018.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Xuân S tiếp tục bồi thường cho ông Lê Văn T số tiền 80.000.000đ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành chưa thanh toán hết số tiền trên thì còn phải trả khoản tiền lãi theo mức lãi quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Xuân S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo về việc giảm hình phạt cho bị cáo. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của bị cáo không nộp bổ sung. Tuy nhiên bị cáo cho rằng mức án Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo là quá nghiêm khắc so với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra nên xin Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm án cho bị cáo.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm xét xử vụ án:

Quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm là chưa đầy đủ. Hội đồng xét xử nhận định đánh giá chứng cứ chưa đúng với hành vi khách quan của bị cáo đã thực hiện cụ thể:

- Căn cứ lời khai của bị cáo về quan hệ giao dịch thuê xe giữa bị cáo và đương sự có tên là T2, thì chưa được xác minh làm rõ về mối quan hệ này để xác định nguồn gốc chiếc xe ô tô biển số 60A-01722 ban đầu bị cáo thế chấp cho ông T có đúng như những gì bị cáo khai hay không.

- Mối quan hệ vay mượn tiền của bị cáo đối với ông T được bị cáo khai nhận, do không có khả năng chi trả nên bị cáo đã bỏ trốn để tránh sự truy tìm đòi nợ của ông T. Căn cứ hành vi khách quan bị cáo thực hiện và khai nhận nêu trên thể hiện cơ quan tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự bị cáo đối với việc vay tiền ông T rồi bỏ trốn là có dấu hiệu bỏ lọt hành vi phạm tội.

- Việc bị cáo mượn xe của T1 (xe T1 Thuê) mục đích đi vay tiền trả cho ông T, do không mượn được tiền nên đã thế chấp chiếc xe mượn của T1 cho ông T (thay thế cho chiếc xe thế chấp ban đầu). Đây là việc sử dụng tài sản mượn vào mục đích bất hợp pháp nhưng chiếc xe đã được thu trả cho chủ sở hữu trước khi bị cáo cắt đứt liên lạc với ông T và T1. Do vậy cần làm rõ ý thức chiếm đoạt của bị cáo trong giao dịch này là xe ô tô hay tiền thuê xe ô tô của bị cáo đối với T1 như đã hứa trả cho T1 tiền thuê xe mà T1 đã trả cho chủ xe.

Từ những phân tích nhận đinh nêu trên vị Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử hủy án bản án sơ thẩm số: 02/2019/HS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Giao hồ sơ vụ án choViện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm đồng để giải quyết lại từ giai đoạn điều tra.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm truy tố xét xử bị cáo là đúng người đúng tội, đúng hành vị chiếm đoạt của người bị hại T1 đối với chiếc xe ô tô biển số 60A-196621, xác định bị hại của vụ án là anh T1 là đúng pháp luật. Tuy vậy mức hình phạt tuyên 10 năm tù là nặng, sau khi xử sơ thẩm gia đình bị cáo bồi thưởng tiếp số nợ 80.000.000 đồng cho ông T. Do vậy mong Hội đồng xét xử giảm án cho bị cáo. Đối với đề nghị hủy bản án sơ thẩm của vị Kiểm sát viên luật sư cho rằng không đúng. Bởi bị cáo có giao dịch vay mượn tiền của ông T (dù cho bị cáo có trốn tránh nghĩa vụ trả nợ với ông T) nhưng ông T không làm đơn tố cáo bị cáo đến cơ quan điều tra làm việc nên không truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm án của bị cáo.

Bị cáo đồng ý với phần bào chữa của Luật sư và xin Hội đồng xét xử giảm án cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở các chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra và việc khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm nêu trên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận định:

[1] Căn cứ vào Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định hành vi khách quan của tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thì người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây thì bị coi là thực hiện hành vi phạm tội:

- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó.

- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó.

- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả.

- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

[2] Với nội dung vụ án nêu trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy: Căn cứ nội dung vụ án thì Nguyễn Xuân S đã thực hiện các hành vi sau:

Hành vi thứ nhất: Căn cứ lời khai của Nguyễn Xuân S thì S đã nhận tài sản là xe ô tô biển số 60A-01722 thông qua hợp đồng thuê xe tự lái với người phụ nữ tên là T2 tại Đồng Nai (không được cơ quan điều tra xác minh kiểm chứng). Sau khi nhận tài sản từ hợp đồng thuê xe của chị T2 bị cáo S đã sử dụng tài sản này giao cho ông T1 để vay tiền. Nếu có chứng cứ chứng minh đúng như lời khai của bị cáo là đúng thì việc không truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi này của bị cáo là không sai (Bởi tài sản đã trả cho bà T2). Tuy vậy, cũng cần điều tra làm rõ để xác minh về những vấn đề có liên quan đến tài sản này có đúng như lời khai của bị cáo S hay không? Liệu tài sản có liên quan tới hành vi phạm tội nào khác không? Để tránh việc lọt người lọt tội, có như vậy vụ án với được giải quyết một cách triệt để.

Hành vi thứ hai: Nguyễn Xuân S đã nhận tài sản là 160.000.000 đồng của ông Lê Văn T thông qua các giao dịch vay tiền và để lại tài sản làm tin cho người cho vay tiền. Xác định hai bên giao dịch khai nhận việc để lại xe ô tô là để làm tin chứ không phải là giao tài sản cầm cố thế chấp. Xét thấy, sau khi nhận được tiền từ ông T bị cáo S đã tiếp tục nói dối ông T về việc cho đổi tải sản giao cho cho ông T giữ làm tin, nhằm mục đích kéo dài thêm thời hạn thanh toán và sau đó thì bỏ trốn để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho ông T (bút lục 89, 90, 91 là các bản tự khai của S đã xác nhận nội dung này). Với hành vi này của bị cáo S đã không bị cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm xác định là hành vi phạm tội và không đưa ông T vào tham gia tố tụng với tư cách là bị hại của vụ án hình sự (mặc dù bản án phán xử tuyên buộc bị cáo trả tiền nợ cho ông T) là có dấu hiệu của việc bỏ lọt hành vi phạm tội.

Hành vi thứ ba: Nguyễn Xuân S đã nhận chiếc xe ô tô biển số 60A- 196.21 từ người đang quản lý hợp pháp là Trương Ngọc T1 thông qua giao dịch mượn xe đi công chuyện. Sau khi nhận được xe từ T1 giao cho thì dùng làm phương tiện đi vay tiền trả ông T nhưng không được. Sau đó S sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp là giao cho chủ nợ của S để thay thế cho tài sản khác mục đích làm tin cho khoản nợ của mình. Vấn đề được đặt ra ở đây là việc làm này có “dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản” hay không? Từ đó mới có cơ sở xác định hành vi này của S có phạm tội hay không. Bởi lẽ theo các chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra thì tài sản này đã bị cơ quan điều tra thu hồi trả cho chủ xe (việc này ông T đã báo cho bị cáo trước khi bị cáo bỏ trốn). Do đó, cần phải được đối chất làm rõ để làm rõ ý thức chủ quan của bị cáo từ đó xác định tài sản bị chiếm đoạt trong hành vi này là toàn bộ chiếc xe hay là số tiền thuê xe mà T1 phải trả cho chủ xe.

Việc bản án sơ thẩm nhận định tại trang 4: “do cần tiền để chuộc lại chiếc xe ô tô biển số 60A – 01722 mà bị cáo đã thế chấp cho ông T với số tiền 160.000.000đ vì thời hạn bị cáo thuê chiếc xe trên đã hết, nên bị cáo đã lợi dụng lòng tin của ông Trương Ngọc T1 để chiếm đoạt chiếc xe ô tô biển số 60A- 19621 mà ông T1 đã thuê của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ ô tô P của chị Nguyễn Trần Mỹ C và anh Lê Thanh H là chồng chị C để thế chấp cho ông Lê Văn T nhằm mục đích lấy chiếc xe 60A- 01722 mà bị cáo đã thế chấp trước đó về trả cho chủ sở hữu, sau đó bị cáo bỏ trốn”. Từ nhận định này bản án sơ thẩm đã xác định anh T1 là bị hại và phán xử bị cáo là chưa đánh giá đúng bản chất của về hành vi của bị cáo, có dấu hiệu bỏ lọt hành vi phạm tội.

Từ những nội dung phân tích nêu trên thể hiện cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã bỏ lọt hành vi phạm tội chiếm của bị cáo Nguyễn Xuân S đối với việc chiếm đoạt tiền của ông Lê Văn T; Bên cạnh đó chưa chứng minh làm rõ về hành vi khách quan quy định tại điều 175 Bộ luật hình sự đối với hành vi S thuê, mượn xe ô tô của những người đang quản lý hợp pháp sau đó “sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”. Những sai phạm trên, không thể khắc phục được tại cấp phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm số 02/2019/HSST ngày 26/02/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã xét xử đối với bị cáo Nguyễn Xuân S về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng để giải quyết lại từ giai đoạn điều tra như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại phiên tòa phúc thẩm. Do bản án hủy án sơ thẩm nên không xem xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a và b khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 02/2019/HSST ngày 26/02/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã xét xử đối với bị cáo Nguyễn Xuân S về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng để giải quyết lại từ giai đoạn điều tra.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Xuân S cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng thụ lý lại hồ sơ vụ án.

Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Xuân S không phải chịu Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 


213
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 359/2019/HS-PT ngày 27/06/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:359/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 27/06/2019
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về