Bản án 354/2018/DS-PT ngày 05/11/2018 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 354/2018/DS-PT NGÀY 05/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC

Trong các ngày 29 tháng 10 và 05 tháng 11 năm 2018, tại Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 209/2018/TLPT- DS ngày 13 tháng 9 năm 2018 về việc tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 57/2018/DSST ngày 18/7/2018 của Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 272/2018/QĐ-PT ngày 14 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quang T, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện H, tỉnh Long An.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Nguyễn N, sinh năm 1981 (có mặt) (đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền ngày 30/3/2018).

Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Bị đơn: Anh Lê Văn V, sinh năm 1975 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp K, xã M, thị xã L, tỉnh Tiền Giang.

- Người kháng cáo: Bị đơn Lê Văn V.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo nội dung bản án sơ thẩm, anh Nguyễn N - đại diện ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Quang T trình bày:

Anh Lê Văn V có đất canh tác trồng lúa tại Đ, xã A, huyện H, tỉnh Long An. Vào ngày 16/12/2017 nhằm ngày 29/10/2017 âm lịch anh T và anh Lê Văn V có làm Tờ thỏa thuận hợp đồng về việc bao tiêu lúa nếp đồng thời đặt cọc số tiền 42.000.000 đồng cho anh Lê Văn V. Theo nội dung thỏa thuận trong hợp đồng tại khoản 8: “Nếu đến ngày cân mà bên bán sai hợp đồng thì bên bán sẽ đền bồi của một đền 3 cho bên mua so với số tiền mà bên mua đặt cọc buổi ban đầu và bên mua không đến cân thì mất cọc”, việc thỏa thuận hợp đồng bao tiêu này có chứng kiến của ông Nguyễn Ngọc P ngụ địa chỉ: ấp A, xã L, huyện M, tỉnh Long An. Tuy nhiên đến thời điểm thu hoạch , anh T đến mua thì anh V không thực hiện theo thỏa thuận của hợp đồng mà hai bên đã cam kết mà đem cân bán lúa cho người khác. Việc anh V tự ý đem bán lúa cho người khác mà không được sự đồng ý của anh T là vi phạm cam kết thỏa thuận giữa hai bên, xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của anh T nên anh T yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc anh V trả lại số tiền đặt cọc là 42.000.000 đồng và bồi thường 84.000.000 đồng theo nội dung hợp đồng ngày 16/12/2017 hai bên đã thỏa thuận, tổng cộng là 126.000.000 đồng.

* Bị đơn anh Lê Văn V trình bày:

Anh có làm đất tại Đ, anh có hợp đồng bán nếp cho anh Nguyễn Quang T với mức giá 5.200 đồng/kg, anh có nhận tiền cọc là 34.800.000 đồng, cộng thêm tiền lúa giống là 7.200.000 đồng, ngày nhận là 16/12/2017 đến ngày 25 tháng giêng âm lịch, tổng cộng 42.000.000 đồng. Anh Nguyễn Quang T đến gặp để cho ngày cắt lúa, vợ chồng anh T có cho thêm 300 đồng/kg, cộng lại là 5.500 đồng/kg, đến ngày 04/02/2018 âm lịch cắt lúa. Sáng ngày mùng 05 tháng 02 năm 2018 âm lịch là ngày cân lúa, anh đã cắt lúa đem lên bờ đúng theo quy định chờ anh T đến cân. Đến sáng ngày mùng 5 vợ chồng anh T không có mặt, chỉ cho cò là ông P tới cân lúa thay anh T, anh đã cân đổ xuống xuồng 4 bao lúa thì vợ chồng anh T điện thoại ra bảo cân với giá 5.200 đồng/kg mới cân chứ không chịu cân với lời đã hứa là 5.500 đồng/kg. Anh có gọi điện thoại hỏi thì anh T nói do nếp tụt giá, anh có kêu anh T ra gặp mặt để thỏa thuận lại giá thì anh T không ra mà có cho 03 tên giang hồ ra đe dọa không cho anh cân lúa nếp cho người khác, nên anh phải dời lại 01 đêm qua sáng ngày mùng 6 mới cân được. Vì anh T có thái độ thuê giang hồ đe dọa nên anh phải bán nếp cho người khác với giá 5.700 đồng/kg, như vậy anh không có bẻ hợp đồng nên không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của anh T, không đồng ý trả số tiền 126.000.000 đồng, mà chỉ đồng ý trả lại tiền cọc là 42.000.000 đồng.

* Người làm chứng ông Nguyễn Ngọc P trình bày: Vào ngày 23/10/2017 ông có dẫn anh T đến hợp đồng bao nếp (bốn sáu chín) Long An còn gọi là VEG 4625 của 6 hộ dân ở Đ. Hợp đồng giá bao tiêu là 5.200 đồng/kg, đến ngày 25/01/2018 vợ chồng anh T có đến cho giá thêm 300 đồng/kg là 5.500 đồng/kg và hẹn ngày cắt là 04/02/2018 là cắt, ngày 05/02/2018 là cân, nhưng đến sáng ngày mùng 5 bà con đem lúa lên bờ đầy đủ, ghe xuống cân đổ xuống 4 bao nếp nhưng giá đã giảm (anh T hứa giá 5.500 đồng/kg thì giá thị trường lúc đó là 6.200 đồng – 6.300 đồng/kg) nhưng đến ngày cắt giá giảm còn 5.600 đồng - 5.700 đồng/kg nên vợ chồng anh T không còn cho giá 5.500 đồng/kg, mà chỉ cho giá 5.300 đồng/kg, tức chỉ thêm 100 đồng/kg so với lúc ký hợp đồng thỏa thuận.

* Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2018/DS-ST ngày 18/7/2018 của Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Tiền Giang đã áp dụng Điều 328, 357, 430, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quang T.

Buộc anh Lê Văn Việt trả cho anh Nguyễn Quang T số tiền 126.000.000 đồng (Một trăm hai mươi sáu triệu đồng) Kể từ ngày anh Nguyễn Quang T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Lê Văn V chậm thi hành số tiền trên thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Về án phí: Anh Lê Văn V phải nộp 6.300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại anh Nguyễn Quang T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.150.000 đồng, theo biên lai thu số 0001507 ngày 26/4/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã L, tỉnh Tiền Giang.

- Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của đương sự.

* Ngày 30 tháng 7 năm 2018, anh Lê Văn V có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của ông T.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Anh Lê Văn V kháng cáo đồng ý trả tiền đặc cọc cho anh T số tiền 42.000.000 đồng và đồng ý bồi thường cho anh T số tiền 10.000.000 đồng.

Anh Nguyễn N - đại diện theo ủy quyền của anh T không đồng ý theo yêu cầu kháng cáo của anh V, yêu cầu giữ y án sơ thẩm.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Kể từ ngày thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự.

+ Về nội dung: Bản án sơ thẩm chưa xem xét đầy đủ các chứng cứ có trong hồ sơ, cho rằng không có việc anh T thỏa thuận tăng giá lúa là không có căn cứ. Người làm chứng ông Nguyễn Ngọc P thừa nhận: Vợ chồng anh T có thỏa thuận cho tăng giá lên 5.500 đồng/kg vào ngày 25/01/2018; tuy nhiên vào ngày cân lúa ngày 05/02/2018 anh T chỉ cho tăng giá lên 5.300 đồng/kg. Anh V yêu cầu có mặt anh T để thỏa thuận giá lại, nhưng anh T không có mặt. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lỗi có phần của nguyên đơn. Yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Lê Văn V là có cơ sở, đề nghị chấp nhận, sửa án sơ thẩm.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và những quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Hợp đồng mua bán” là chưa phù hợp với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Anh T khởi kiện cho rằng phía anh V đã vi phạm thỏa thuận theo hợp đồng ngày 16/12/2017, yêu cầu phía anh V đền bồi số tiền đặt cọc 42.000.000 đồng, đền bồi của một đền 3 với số tiền 126.000.000 đồng. Căn cứ theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp “Hợp đồng đặc cọc”.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của anh Lê Văn V. Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù tại Điều 8 của Tờ thỏa thuận hợp đồng về việc bao tiêu lúa nếp ngày 16/12/2017 (nhằm ngày 29/10/2017 AL) có nội dung: “Nếu đến ngày cân mà bên bán sai hợp đồng thì bên bán sẽ đền bồi của một đền 3 cho bên mua so với số tiền mà bên mua đặt cọc buổi ban đầu và bên mua không đến cân thì mất cọc”. Tuy nhiên ở phần Lưu ý của Tờ thỏa thuận hợp đồng cũng có thể hiện: “Thị trường lên hoặc sụt giá quá mức quy định so với tiền đặt cọc ban đầu thì ngày cân thương lượng lại giá…”. Anh V trình bày: Anh T có đến gặp anh để cho ngày cắt lúa là ngày 04/02/2018 âm lịch, sáng ngày mùng 5 tháng 02 năm 2018 âm lịch là ngày cân lúa và có cho thêm 300 đồng/kg, cộng lại là 5.500 đồng/kg, nhưng đến ngày cân lúa nếp thì vợ chồng anh T không có mặt, chỉ cho cò là ông P tới cân lúa thay anh T, anh đã cân đổ xuống xuồng 4 bao lúa thì vợ chồng anh T điện thoại ra bảo cân với giá 5.300 đồng/kg chứ không chịu cân với giá 5.500 đồng/kg như đã hứa. Anh V đã gọi điện thoại hỏi thì anh T nói do nếp tụt giá, anh V có kêu anh T ra gặp mặt để thỏa thuận lại giá và cân lúa nếp nhưng anh T không đến, mà chỉ có mặt ông P đòi nhận thay anh T, nên anh V không đồng ý giao lúa nếp cho ông P. Lời trình bày này của anh V phù hợp với lời trình bày của người làm chứng ông Nguyễn Ngọc P tại Bản tự khai ngày 07/4/2018 (Bút lục 32) và phù hợp với phần Lưu ý của Tờ thỏa thuận hợp đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn N – đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Quang T nộp Bản tự khai đề ngày 30/10/2018 của ông Nguyễn Ngọc P, Biên bản đối chất ngày 27/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện L tiến hành đối chất giữa Nguyễn Quang T, Trần Văn T và Nguyễn Ngọc P để chứng minh rằng anh T không có thỏa thuận giá 5.500 đồng/kg như bị đơn trình bày. Điều này chứng tỏ lời khai của ông P trước sau không thống nhất, chứng tỏ có cơ sở xác định anh T có thay đổi về giá nhưng không đến thương lượng lại nên cũng có lỗi vi phạm hợp đồng đã thỏa thuận. Anh V thừa nhận do anh T không đến cân lúa nên không có giao lúa nếp cho anh T, mà bán cho người khác với giá 5.700 đồng/kg, nên anh V cũng có lỗi vi phạm thỏa thuận của hợp đồng. Anh V đồng ý trả cho anh T số tiền đặt cọc là 42.000.000 đồng và đồng ý bồi thường cho anh T số tiền là 10.000.000 đồng, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Lê Văn V, sửa 01 phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quang T, buộc anh V trả lại cho anh T số tiền đặt cọc 42.000.000 đồng và ghi nhận sự tự nguyện của anh V đồng ý bồi thường cho anh T số tiền là 10.000.000 đồng.

[4] Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Do kháng cáo của anh V được chấp nhận nên anh V không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm như sau:

Anh V phải chịu án phí sơ thẩm là : (42.000.000 đồng + 10.000.000 đồng) x 5% = 2.600.000 đồng.

Anh T phải chịu án phí sơ thẩm là: (126.000.000 đồng – 52.000.000 đồng) x 5% = 3.700.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Điều 328, 357, 430, 468 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Lê Văn V.

Sửa 01 phần Bản án sơ thẩm số: 57/2018/DS-ST ngày 18/7/2018 của Tòa án nhân dân thị xã L.

- Phần tuyên xử:

1. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quang T.

Buộc anh Lê Văn Việt trả cho anh Nguyễn Quang T số tiền đặt cọc 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng).

Ghi nhận sự tự nguyện của anh Lê Văn V bồi thường cho anh Nguyễn Quang T số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Tổng cộng anh Lê Văn V có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Quang T số tiền 52.000.000 đồng (Năm mươi hai triệu đồng).

Kể từ ngày anh Nguyễn Quang T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Lê Văn V chậm thi hành số tiền trên thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Về án phí:

- Án phí sơ thẩm:

Anh Lê Văn V phải nộp 2.600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Nguyễn Quang T phải nộp 3.700.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.150.000 đồng theo biên lai thu số 0001507 ngày 26/4/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã L, tỉnh Tiền Giang, nên anh T còn phải nộp thêm 550.000 đồng.

- Án phí phúc thẩm:

Anh V không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm nên được hoàn lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001736 ngày 30/7/2018 của của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã L, tỉnh Tiền Giang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui địn h tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


86
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 354/2018/DS-PT ngày 05/11/2018 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

Số hiệu:354/2018/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 05/11/2018
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về