Bản án 35/2021/HNGĐ-ST ngày 08/02/2021 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 35/2021/HNGĐ-ST NGÀY 08/02/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 08 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2066/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2020, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2021/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn : Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1989 Địa chỉ: Số 4/14, khu phố 2, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn Ông Trần Hữu T, sinh năm 1989 Địa chỉ: Số 4/14, khu phố 2, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ - Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Trần Hữu T tự nguyện chung sống từ năm 2013 và đến năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận số 110 ngày 03/6/2014. Cuộc sống vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống quá nhiều, ông T không chăm lo tới gia đình. Bà H nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Hữu T.

- Về con chung: Bà H và ông T có 04 con chung là Trần Thiên V, sinh ngày 09/4/2013, Trần B, sinh ngày 08/4/2014, Trần Bảo T, sinh ngày 01/12/2016 và Trần Hưng T, sinh ngày 18/6/2018. Khi ly hôn, bà H xin nhận nuôi cả bốn con, tạm thời không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ông Trần Hữu T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

YÙ kieán ca Vieän kieåm saùt nhaân daân thành phố B:

Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết, Tòa án đã xác định đúng theo quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn chấp hành không đúng. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật.

Về vieäc giải quyết tranh chaáp:

- Veà quan heä hoân nhaân: Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Trần Hữu T.

- Veà quan heä con chung: Quá trình chung sống, bà H và ông T có 04 con chung là Trần Thiên V, sinh ngày 09/4/2013, Trần B, sinh ngày 08/4/2014, Trần Bảo T, sinh ngày 01/12/2016 và Trần Hưng T, sinh ngày 18/6/2018. Khi ly hôn, giao cho bà H được nuôi cả bốn con, tạm thời ông T không phải cấp dưỡng do bà H không yêu cầu.

- Về tài sản chung và nợ chung: Theo bà H khai, bà và ông T tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của ông T về tài sản chung và nợ chung nên sẽ giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Bà Nguyễn Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Trần Hữu T; Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà H là nguyên đơn, ông T là bị đơn trong vụ án.

- Theo Biên bản xác minh ngày 09/11/2020 tại Công an phường H thì hiện nay ông Trần Hữu T có đăng ký thường trú và đang sinh sống tại địa chỉ số 4/14, khu phố 2, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do đó, căn cứ các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Ngày 22/01/2021, bà Nguyễn Thị Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tòa án nhân dân thành phố B tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là ông Trần Hữu T để tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Vì vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà H và ông T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông T tự nguyện chung sống từ năm 2013 và đến năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận số 110 ngày 03/6/2014. Do đó, cần áp dụng các quy định tại Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000, xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống quá nhiều, ông T không chăm lo tới gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của bà H là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quý trọng chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Nhưng theo biên bản xác minh ngày 03/11/2020 tại Ủy ban nhân dân phường H thể hiện bà H và ông T chung sống với nhau có mâu thuẫn hay không thì địa phương không nắm được, do các đương sự không trình báo. Tuy nhiên, theo bà H trình bày, trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, không thể hàn gắn, vợ chồng không còn tình cảm, không yêu thương chăm lo cho nhau nữa. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập ông T để hòa giải đoàn tụ nhưng ông T đều vắng mặt không lý do, bỏ mặc hạnh phúc gia đình, không có động thái tích cực để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, thể hiện việc mâu thuẫn trong tình cảm giữa bà H và ông T là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy, mâu thuẫn trong tình cảm vợ chồng giữa bà H và ông T là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Tòa án căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông T.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống, bà H và ông T có 04 con chung là Trần Thiên V, sinh ngày 09/4/2013, Trần B, sinh ngày 08/4/2014, Trần Bảo T, sinh ngày 01/12/2016 và Trần Hưng T, sinh ngày 18/6/2018. Khi ly hôn, bà H xin được nuôi cả bốn con, tạm thời không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng. Hiện nay, các cháu V, B, T và T đều do bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng, tuổi các cháu còn nhỏ cần sự chăm sóc, dạy bảo của người mẹ. Vì vậy, yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu V, B, T và T của bà H là có căn cứ chấp nhận. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu. Ông T được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Theo bà H khai, bà và ông T tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của ông T về tài sản chung và nợ chung nên sẽ giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

[5] Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị Ngọc H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Áp dụng Điều 19, 53, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 và khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H, bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Trần Hữu T.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà H và ông T có 04 con chung là Trần Thiên V, sinh ngày 09/4/2013, Trần B, sinh ngày 08/4/2014, Trần Bảo T, sinh ngày 01/12/2016 và Trần Hưng T, sinh ngày 18/6/2018. Khi ly hôn, giao cho bà H được nuôi cả bốn con, tạm thời ông T không phải cấp dưỡng do bà H không yêu cầu. Ông T được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Theo bà H khai, bà và ông T tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của ông T về tài sản chung và nợ chung nên sẽ giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải nộp 300.000đồng án phí, được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0006748 ngày 28/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Bà H đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Trần Hữu T vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

220
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2021/HNGĐ-ST ngày 08/02/2021 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:35/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 08/02/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về