Bản án 35/2020/HS-ST ngày 31/03/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 35/2020/HS-ST NGÀY 31/03/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 31 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 38/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:

Hoàng Thiên L (tên gọi khác: Nguyễn Hoàng L1); giới tính: Nam; sinh năm: 1986; tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Không; chỗ ở: Phòng số 9, nhà trọ số A25/24K1, Tổ 33, Ấp 1, xã BH, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; Học vấn: 5/12; cha: Không rõ, mẹ: Phạm Kim O; có vợ: Võ Thị Thanh I (không đăng ký kết hôn), có 01 con sinh năm 2008; tiền án: tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 21/7/2009 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 8 quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 27/6/2011.

Ngày 30/3/2012, Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 02 năm tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/7/2013.

Ngày 09/12/2014 bị Công an Quận 8 bắt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 16/10/2017 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 11/02/2019.

Bị bắt tạm giữ ngày 26/3/2019 và được trả tự do cùng ngày, đến ngày 09/12/2019 bị Công an Quận 8 bắt tạm giam cho đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Ông Đỗ Tiểu H, sinh năm: 1953; nơi cư trú: 80/8 Đường V, Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài, khoảng 01 giờ ngày 16/9/2008, Hoàng Thiên L rủ Nguyễn Thành R và Nguyễn Văn G đi tìm tài sản trộm cắp thì R và G đồng ý. Khi cả ba đi đến nhà số 80/8 Đường V, Phường M, Quận D, cơ sở ba ga xe của anh Đỗ Tiểu H thì thấy các cuộn sắt không người trông coi. Cả ba lấy trộm 01 cuộn sắt tròn (loại phi 6) lăn về để trước nhà của G ở số 1/32 Đường V, Phường M, Quận B. Khoảng 30 phút sau, L và R tiếp tục quay lại nhà của anh H lấy trộm 01 cuộn sắt như trên lăn về trước nhà của G. Tại đây, L và G gặp và nhờ Nguyễn Thành L và “Bé Hai” (không rõ lai lịch) cùng phụ giúp lăn 02 cuộn sắt cất giấu ở gầm cầu Đường P, Phường M, Quận B. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày 16/9/2008, R mang 01 cuộn sắt đến vựa phế liệu số 01 Đường Q, Phường M, Quận N bán cho chị Lê Thị Minh Y được 1.000.000 đồng, số tiền này L được hưởng 200.000 đồng. Cùng ngày, Công an Phường 11, Quận 8 đi tuần tra phát hiện thu giữ 01 cuộn sắt ở gầm cầu Nguyễn Tri Phương nên đã truy xét, đưa R, G và Hoàng Thiên L về trụ sở làm rõ. Bị mất trộm tài sản, anh Đỗ Tiểu H đến Công an Phường 11, Quận 8 trình báo. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan điều tra Công an Quận 8 để điều tra làm rõ.

Khi Công an Phường 11, Quận 8 đưa Hoàng Thiên L về trụ sở làm việc, L khai tên giả là Nguyễn Hoàng L1. Sau khi được tạm cho về, L bỏ trốn khỏi nơi cư trú nên ngày 17/9/2009 Cơ quan điều tra Công an Quận 8 khởi tố bị can và ra quyết định truy nã với tên giả là Nguyễn Hoàng L1, còn Nguyễn Thành R, Nguyễn Văn G đã bị Tòa án nhân dân Quận 8 xét xử vào ngày 26/11/2009.

Theo kết luận định giá ngày 10/10/2008 của Hội đồng định giá tài sản theo tố tụng hình sự Quận 8 kết luận giá trị của: 02 cuộn sắt tròn loại phi 6 (cân nặng khoảng 200kg/cuộn) là 6.000.000 đồng. Ngày 31/8/2009 Cơ quan điều tra Công an Quận 8 đã trả lại 01 cuộn sắt cho anh Đỗ Tiểu H và anh H không yêu cầu bồi thường thêm.

Ngày 26/3/2019 Công an Quận 8 bắt truy nã đối với Nguyễn Hoàng L1.

Qua điều tra xác định Nguyễn Hoàng L1 tên thật là Hoàng Thiên L nên Cơ quan điều tra Công an Quận 8 phục hồi điều tra bị can, quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với Hoàng Thiên L.

Đối với Nguyễn Thành L và “Bé Hai” quá trình điều tra không xác định được lai lịch, đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra Công an Quận 8 không tiếp tục xử lý.

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 17/02/2020 Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Hoàng Thiên L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Tại phiên tòa, Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù theo khoản 1 Điều 138, các điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy, khoảng 01 giờ ngày 16/9/2008, Hoàng Thiên L và Nguyễn Thành R, Nguyễn Văn G đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 cuộn sắt tròn (loại phi 6) của anh Đỗ Tiểu H, tại số 80/8 Đường V, Phường M, Quận B, tài sản chiếm đoạt trị giá 6.000.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[3] Xét thấy, hành vi của bị cáo L là có đồng phạm là Nguyễn Thành R và Nguyễn Văn G nhưng chỉ mang tính giản đơn, nhất thời, không có tổ chức.

[4] Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại thời điểm bị cáo phạm tội thì bị cáo chưa bị kết án lần nào nên bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo các điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[5] Xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[6] Xét thấy, bị hại không yêu cầu gì về phần dân sự nên không đề cập giải quyết.

[7] Xét thấy, bị cáo thu lợi bất chính 200.000 đồng nên buộc bị cáo nộp lại số tiền này theo điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[8] Đối với Nguyễn Văn G, Nguyễn Thành R đã bị Tòa án nhân dân Quận 8 đưa ra xét xử về hành vi trộm cắp nêu trên nên không đề cập giải quyết.

[9] Đối với Nguyễn Thành L và “Bé Hai” quá trình điều tra không xác định được lai lịch, đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không đề cập giải quyết.

[10] Về vật chứng vụ án: Đã trả cho bị hại nên không đề cập giải quyết.

[11] Về án phí: Theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thiên L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 138, các điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xử phạt bị cáo Hoàng Thiên L 09 (chín) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ ngày 26/3/2019. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2019.

Về số tiền thu lợi bất chính: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Buộc bị cáo Hoàng Thiên L nộp lại số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


7
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2020/HS-ST ngày 31/03/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:35/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 8 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:31/03/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về