Bản án 35/2020/HS-PT ngày 10/07/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 35/2020/HS-PT NGÀY 10/07/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 10 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 49/2020/TLPT-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo Ngô Văn T, do có kháng cáo của bị cáo Ngô Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2020/HS-ST, ngày 23 tháng 4 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

- Bị cáo có kháng cáo: Ngô Văn T, sinh ngày 18 tháng 7 năm 1994 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Văn Y và bà: Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; tạm giữ từ ngày 02/01/2020 đến ngày 11/01/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Tài H - Luật sư Văn phòng Luật sư N thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có 04 bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ, ngày 02/01/2020, sau khi cùng ăn cơm xong, Ngô Văn T, Hoàng Văn Đ, Vi Văn L, Hoàng Văn N và Đoàn Văn U rủ nhau đến nhà nghỉ C ở thôn P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để tắm rửa, nghỉ ngơi. Ngô Văn T, Hoàng Văn N đến nhà nghỉ C trước, thuê phòng 202, còn Hoàng Văn Đ, Vi Văn L, Đoàn Văn U đến sau. Sau khi tắm xong, Hoàng Văn N và Đoàn Văn U không nghỉ mà ra về trước. Sau đó có Phạm Văn V đến nhà nghỉ C chơi, đang uống nước tại tầng một cùng Nông Văn C thì Lương Văn H gọi điện thoại, biết Phạm Văn V đang ở đó nên Lương Văn H rủ Nguyễn Văn M cùng đi đến nhà nghỉ C. Khi đang ngồi uống nước, Phạm Văn V có việc riêng nên về trước. Lương Văn H nhìn thấy Ngô Văn T là người quen đang ở trên tầng hai thì cùng Nguyễn Văn M đi lên, vào phòng 202 ngồi chơi. Lúc này Ngô Văn T nảy sinh ý định đánh bạc nên rủ Lương Văn H, Nguyễn Văn M và Hoàng Văn Đ đánh bạc thì mọi người đều đồng ý, do không có công cụ để đánh bạc nên Nguyễn Văn M gọi Nguyễn Văn C lấy cho một bộ bài tú lơ khơ và chiếu. Khi đã có bài và chiếu các đối tượng cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh Liêng thắng thua bằng tiền. Ban đầu đánh có bốn cửa gồm: Ngô Văn T, Hoàng Văn Đ, Lương Văn H, Nguyễn Văn M. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn C đang quản lý nhà nghỉ đến xem và cũng tham gia đánh bạc.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, Nông Văn C; Hoàng Văn Đ; Ngô Văn T; Lương Văn H; Nguyễn Văn M đang đánh bạc thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ trên người các đối tượng tổng số tiền 26.840.000 đồng. Quá trình điều tra, đã xác định tổng số tiền các đối tượng đã và sẽ sử dụng vào mục đích đánh bạc là: 17.480.000 đồng, trong đó số tiền bị cáo Ngô Văn T sử dụng vào việc đánh bạc là 1.000.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2020/HS-ST, ngày 22-4-2020 của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội Đánh bạc. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạtbị cáo Ngô Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt 03 bị cáo khác 09 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, tuyên phạt 01 bị cáo khác 01 năm 02 tháng tù, tuyên về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Ngô Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa: Bị cáo kháng cáo chỉ xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm kết án bị cáo về tội Đánh bạc là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và ấn định mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có cung cấp thêm các tài liệu chứng cứ mới, đó là: Đơn xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương; Biên lai thu tiền nộp án phí hình sự sơ thẩm; Phiếu thu bị cáo ủng hộ Quỹ bảo trợ trẻ em năm 2020 số tiền 2.000.000 đồng. Đây là là các tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 về án treo thì bị cáo có đủ điều kiện để hưởng án treo. Do đó, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

Ông Nguyễn Tài H là người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Bản án sơ thẩm đã tuyên, cụ thể: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 02 tháng 01 năm 2020, tại phòng số 202 nhà nghỉ C ở thôn P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, các đối tượng Nông Văn C, Hoàng Văn Đ, Ngô Văn T, Lương Văn H và Nguyễn Văn M đang thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền thì bị Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang. Tổng số tiền xác định các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 17.480.000 đồng (mười bẩy triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng), trong đó số tiền bị cáo Ngô Văn T sử dụng để đánh bạc là 1.000.000 đồng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

[2] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét khách quan, toàn diện, đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; mức hình phạt của Bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện: Bố mẹ bị cáo tuổi đã cao, hiện nay bị cáo là lao động chính trong gia đình. Ngoài ra bị cáo còn nộp biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm; Phiếu thu bị cáo ủng hộ Quỹ Bảo trợ trẻ em năm 2020 số tiền 2.000.000 đồng. Điều này thể hiện thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mà bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là vụ án đánh bạc đồng phạm giản đơn, mang tính tự phát chứ không có sự chuẩn bị trước, các bị cáo cùng thống nhất trí thực hiện tội phạm. Bị cáo Ngô Văn T bị phạt tù không quá 03 năm, có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, trong thời gian tại ngoại vừa qua không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật; có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[5] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Ngô Văn T sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2020/HS-ST, ngày 22-4-2020 của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đối với phần hình phạt tù của bị cáo Ngô Văn T, cụ thể như sau:

1. Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 01 (một) năm 03 (sáu) tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm, ngày 10-7-2020.

Giao bị cáo Ngô Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Ngô Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./


21
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về