Bản án 35/2019/HS-ST ngày 19/09/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 35/2019/HS-ST NGÀY 19/09/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 19 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyên Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2019/TLST-HS ngày 19/8/2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2019/QĐXXST-HS ngày 05/9/2019 đối với bị cáo:

Phạm Văn H, sinh năm 1974 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (Học vấn): Lớp 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Phạm Văn L (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H (Đã chết); vợ Kiều Thị H, sinh năm 1982 (Đã ly hôn), bị cáo có 01 con sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án số 79/HS ngày 23 tháng 10 năm 1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt Phạm Văn H 03 năm tù giam về: Tội mua bán trái phép chất ma túy (Đến thời điểm phạm tội mới đã được xóa án tích); tại bản án số 125/2009/HSST ngày 20 tháng 10 năm 2009 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt Phạm Văn H 48 tháng tù giam về: Tội Mua bán trái phép chất ma túy (Đến thời điểm phạm tội mới đã được xóa án tích). Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2019 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Quàng Văn V, sinh năm 2000. Trú tại: Bản M, xã S, huyện Y, tỉnh Sơn La. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ, ngày 16 tháng 5 năm 2019 tại bản C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Sơn La tổ công tác Công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã Chiềng Đông, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang Quàng Văn V, sinh năm 2000, trú tại: Bản M, xã S, huyện Y, tỉnh Sơn La đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy màu trắng bên ngoài có chữ viết, bên trong chứa các cục bột màu trắng nghi là Heroine do Quàng Văn V lấy trong túi quần bên phải giao nộp cho tổ công tác; 01 mảnh giấy bạc có vết cháy đen ở giữa; 01 bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, vỏ màu xanh, máy cũ đã qua sử dụng.

Quàng Văn V khai nhận: 01 gói Heroine được gói bằng giấy màu trắng thu giữ là V mua của Phạm Văn H, sinh năm: 1974, trú tại: Tiểu khu B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La với giá 200.000 đồng vào ngày 16/5/2019.

Ngày 16 tháng 5 năm 2019, Phạm Văn H đến UBND xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đầu thú thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho Quàng Văn V. Vật chứng thu giữ: Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 120.000 đồng thu giữ do Phạm Văn H tự giác giao nộp cho tổ công tác; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA- 105, vỏ màu đen, máy cũ đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga màu xanh có dán tem giấy nhãn hiệu Cường Hiền, đã qua sử dụng, thu giữ tại bàn uống nước trong bếp tại nhà của Phạm Văn H; 01 mảnh giấy bạc, thu giữ tại gốc nhãn vườn sau nhà ở của Phạm Văn H.

Ngày 16 tháng 5 năm 2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu phối hợp với Phòng PC09 - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định loại chất ma túy tang vật thu giữ của Quàng Văn V: 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa cục bột màu trắng, có khối lượng 0,05 gam kí hiệu V gửi giám định chất ma túy tại phòng PC09- Công an tỉnh Sơn La.

Tại kết luận giám định số 908 ngày 19 tháng 5 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu V là ma túy; Loại Heroine; tổng khối lượng mẫu gửi giám định là 0,05 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,05 gam; loại Heroine.

Ngày 17 tháng 5 năm 2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu ra Quyết định trưng cầu giám định số 62 yêu cầu giám định: Tiền Việt Nam 120.000 đồng thu giữ của Phạm Văn H khi ra đầu thú là tiền thật hay tiền giả.

Tại bản kết luận giám định số 967 ngày 27 tháng 5 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: số tiền 120.000 đồng thu giữ của Phạm Văn H khi ra đầu thú là tiền thật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn H khai nhận: Khoảng 17 giờ, ngày 15 tháng 5 năm 2019 Phạm Văn H mang theo số tiền là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đi bộ theo đường mòn từ Tiểu khu B, xã C, huyện M đến bản Mai Thuận, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đầu bản Mai Thuận, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, H gặp một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 35 tuổi (không biết tên, địa chỉ) trên lưng đeo gùi đang đi bộ ngược chiều. Qua trao đổi H mua được của người đàn ông dân tộc Mông 01 gói Heroine được gói bằng giấy màu trắng với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Mua được Heroine, H cất giấu vào trong túi quần trước bên phải rồi đi bộ về nhà. Về đến nhà, H lấy bật lửa ga màu xanh và mảnh giấy bạc đi ra vườn cây phía sau nhà rồi lấy 1/3 số Heroine trong gói Heroine vừa mua được sử dụng bằng hình thức đốt hít. Sử dụng ma túy xong, H gói số Heroine còn lại vào trong mảnh giấy màu trắng ban đầu rồi cất giấu tại gốc nhãn nơi H sử dụng ma túy và nhặt viên ngói đặt lên trên gói Heroine.

Khoảng 07 giờ, ngày 16 tháng 5 năm 2019, Phạm Văn H gọi điện từ số thuê bao: 0973.061.391 đến số thuê bao: 0865.773.862 của Quàng Văn V, sinh năm: 2000, trú tại: Bản M, xã S, huyện Y (là người quen với Hải từ trước) để hỏi Việt có mua ma túy không, V trả lời: có và hẹn H đến trưa sẽ lên mua ma túy, H đồng ý. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, V mang theo số tiền 270.000đ (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng) đi bộ từ nhà ra Quốc lộ 6A rồi thuê người đàn ông chở xe ôm (V không biết tên, tuổi địa chỉ) đến nhà Phạm Văn H ở Tiểu khu B, xã C, huyện M để mua Heroine về sử dụng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, V đến cổng nhà H và bảo người lái xe ôm dừng xe, đứng ngoài đường chờ V. V vào nhà H thì gặp H đang ở nhà một mình, V hỏi H: Có Heroine không, bán cho 200.000 đồng, H bảo có. Sau đó H và V đi xuống bếp nhà H, V lấy trong túi quần số tiền 200.000 đồng đưa cho H, H nhận tiền từ V rồi đi ra gốc nhãn sau nhà lấy gói Heroin được gói bằng giấy màu trắng mang vào bếp đưa cho V. V nhận gói Heroine cất trong túi quần trước bên phải rồi đi ra đường cùng người lái xe ôm đi về. Khi đi đến giữa đèo Chiềng Đông, thuộc địa phận bản Chủm, xã Chiềng Đông, huyện Yên Châu, V bảo người lái xe ôm dừng lại, V trả cho người lái xe ôm số tiền 70.000 đồng và bảo người lái xe ôm về trước. Sau đó, V đi vào bụi cây ven đường, cách lề đường trái hướng Sơn La - Hà Nội khoảng 10 mét rồi lấy một nửa gói Heroine ra để sử dụng bằng hình thức đốt hít, một nửa còn lại V gói vào cất giấu tại túi quần trước bên phải. Khi V đang sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Châu bắt quả tang.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi biết Quàng Văn V bị bắt về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, Phạm Văn H đến UBND xã C, huyện Ma, tỉnh Sơn La đầu thú và thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho Quàng Văn V.

Tại phiên tòa bị cáo trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Quá trình Điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Quàng Văn V khai nhận đã nhận ngày 16 tháng 5 năm 2019, Phạm Văn H gọi điện từ số thuê bao: 0973.061.391 đến số thuê bao: 0865.773.862 của V. V đã mua của H 01 gói với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) có khối lượng 0,05 gam việc Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Châu thư giữ của V 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA-105, vỏ màu đen Quàng Văn V không có ý kiến gì.

Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKSYC ngày 19 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 (Đầu thú) Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Phạm Văn H từ 26 (Hai mươi sáu) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì giấy màu trắng, mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho tang vật vụ Quàng Văn V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 16/5/2019 gồm: 01 phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu

+ 01 mảnh giấy màu trắng; 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Quàng Văn V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 16/5/2019 bên trong có 01 bật lửa ga màu đỏ và 01 mảnh giấy bạc; 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi:

Vật chứng gồm: 01 bật lửa ga màu xanh

+ 01 mảnh giấy bạc thu giữ khi khám xét nơi ở của Phạm Văn H ngày 16/5/2019.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, vỏ màu xanh, loại bàn phím, điện thoại đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA - 105, vỏ màu đen, loại bàn phím, điện thoại đã qua sử dụng; tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 120.000đ (Một trăm hai mươi nghìn đồng).

- Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 80.000đ (Tám mươi nghìn đồng) của bị cáo Phạm Văn H.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng là bị cáo Phạm Văn H xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1 Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn H khai nhận toàn bộ hanh vi phạm tội của mình, như đã khai tại cơ quan Điêu tra , ngày 15/5/2019 Phạm Văn H đã mua trái phép 01 gói Heroine của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), mục đích sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời.

Ngày 16/5/2019 Phạm Văn H đã bán trái phép cho 01 gói Heroine với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) cho Quàng Văn V, khi V mang về sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La bắt quả tang vật chứng thu giữ là 0,05 gam Heroine. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi, bị cáo không khai gì thêm so với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Quàng Văn V do tổ công tác Công an huyện Yên Châu lập vào hồi 13 giờ 30 phút, ngày 16/5/2019 biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, bản kết luận giám định số 967 ngày 19/5/2019 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Sơn La kết luận số tiền 120.000 đồng thu giữ của Phạm Văn H khi ra đầu thú là tiền thật; bản kết luận giám định số 908 ngày 19/5/2019 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Sơn La kết luận Mẫu gửi giám định ký hiệu V là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,05 gam loại Heroin nằm trong danh mục 9 mục IA Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ quy định các chất ma túy và tiền chất. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX xét thấy: Bị cáo Phạm Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc Mua bán, sử dụng ma túy. Để có tiền mua ma túy sử dụng và bán kiếm lời nên ngày 16/5/2019 bị cáo Phạm Văn H đã bán 0,05 gam Heroine cho Quàng Văn V thu lợi bất chính số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu đó là: Ngày 23 tháng 10 năm 1997 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù giam về: Tội mua bán trái phép chất ma túy; Ngày 20 tháng 10 năm 2009 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 48 tháng tù giam về: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Đến thời điểm phạm tội mới bị cáo đã chấp hành xong cả hai bản án và đã được xóa án tích); Bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khái báo, ăn năn hối cải và bị cáo ra đầu thú.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

3 Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đến 500.000.000 đ (Năm trăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

4 Về vật chứng, xử lý vật chứng:

- Đối với 01 phong bì giấy màu trắng, mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho tang vật vụ Quàng Văn V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 16/5/2019 gồm: 01 phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu + 01 mảnh giấy màu trắng; 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Quàng Văn V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 16/5/2019 bên trong có 01 bật lửa ga màu đỏ và 01 mảnh giấy bạc; 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: Vật chứng gồm: 01 bật lửa ga màu xanh + 01 mảnh giấy bạc thu giữ khi khám xét nơi ở của Phạm Văn H ngày 16/5/2019. Xét thấy đây là những vật cấm Mua bán, lưu hành, không có giá trị sử dụng, cần tiêu hủy là phù hợp điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, vỏ màu xanh, loại bàn phím, điện thoại đã qua sử dụng thu của Quàng Văn V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA - 105, vỏ màu đen, loại bàn phím, điện thoại đã qua sử dụng thu của Phạm Văn H. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 120.000đ (Một trăm hai mươi nghìn đồng). Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây số tiền trên là tiền do Phạm Văn H bán Heroine có được nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 80.000đ (Tám mươi nghìn đồng) bị cáo Hải đã chi tiêu cá nhân (trong tổng số tiền 200.000 đồng bị cáo đã bán ma túy mà có), đây là số tiền bị cáo phạm tội mà có cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền này.

5 Về các vấn đề khác:

Đối với người bán ma túy cho H, theo lời khai của H đó là người đàn ông dân tộc Mông, không biết tên, địa chỉ, khoảng 35 tuổi. Việc trao đổi mua bán ma túy diễn ra ngoài đường, nên cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu không đủ điều kiện để điều tra xác minh nên không đề cập đến việc xử lý.

Đối với Quàng Văn V đã mua trái phép 01 gói Heroine với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của Phạm Văn H mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau đó V đã sử dụng hết một phần trong số Heroine vừa mua được, số còn lại V cấu giấu trong túi quần đang mặc thì bị tổ công tác Công an huyện bắt quả tang, thu giữ 01 gói giấy màu trắng bên trong có 0,05 gam Heroine, qúa trình điều tra xác định Quàng Văn V chưa có tiền án, tiền sự, không có hồ sơ quản lý đối tượng tại địa phương. Hành vi tàng trữ 0,05 gam Heroine của Quàng Văn V không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng vi phạm Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự. Ngày 14/6/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Châu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Quàng Văn V về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mức phạt là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mức phạt là 1.000.000đ (Một triệu đồng). Tổng mức xử phạt là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Ngày 18/6/2019 Quàng Văn V đã nộp khoản tiền trên tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Yên Châu.

6 Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) là phù hợp với khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày 16/5/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì giấy màu trắng, mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho tang vật vụ Quàng Văn V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 16/5/2019 gồm: 01 phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu + 01 mảnh giấy màu trắng; 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Quàng Văn V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 16/5/2019 bên trong có 01 bật lửa ga màu đỏ và 01 mảnh giấy bạc; 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: Vật chứng gồm: 01 bật lửa ga màu xanh + 01 mảnh giấy bạc thu giữ khi khám xét nơi ở của Phạm Văn H ngày 16/5/2019.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, vỏ màu xanh, loại bàn phím, số IMEI1:356781092152144, số IMEI2: 356781092152151 máy cũ qua sử dụng của Quàng Văn V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA-105, vỏ màu đen, loại bàn phím, số IMEI1: 353715074227964, số IMEI2: 353715074227972 máy cũ qua sử dụng của bị cáo Phạm Văn H; tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 120.000đ (Một trăm hai mươi nghìn đồng) thu qua biên lai quyển số: AA/2016, số: 0002339 ngày 20/8/2019.

- Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 80.000đ (Tám mươi nghìn đồng) đối với bị cáo Phạm Văn H.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


25
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về