Bản án 35/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 35/2018/HS-ST NGÀY 30/11/2018 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ. Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2018/QĐXXST-HS ngày 19/11/2018, đối với bị cáo:

Lường Văn L, Sinh ngày 13/7/1985. Tại thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Nậm Đông 1, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.

Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học Vấn: 9/12.

Họ tên cha: Lường Văn Tệ (Đã chết); Họ tên mẹ: Đinh Thị Ộng, sinh năm 1955.

Trú tại: Thôn Nậm Đông 1, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.

Vợ: Hà Thị Quý (Đã ly hôn)

Con: Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2010 và nhỏ nhất sinh năm 2014. Tiền án: Không.

Tiền sự: Có 02 tiền sự.

+ Ngày 08/4/2016, bị TAND thị xã Nghĩa Lộ Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng.

+ Ngày 06/9/2018, bị TAND thị xã Nghĩa Lộ Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.

Nhân thân: Ngày 19/10/2004, bị TAND thị xã Nghĩa Lộ xử phạt 04 tháng tù, về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 26/10/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái. (Có mặt)

Bị hại: Anh Nguyễn Trọng Th, sinh năm 1978.

Trú tại: Tổ 8, phường Pú Trạng, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi liên quan đến vụ án: Anh Bùi Minh H, sinh năm 1985.

Trú tại: Tổ 8, phường Pú Trạng, thị xã Nghĩa lộ, tỉnh Yên Bái. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Lường Văn L bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/9/2018, Lường Văn L trú tại thôn Nậm Đông 1, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái. Đến nhà anh Nguyễn Trọng Th ở tổ 8, phường Pú Trạng, thị xã Nghĩa Lộ hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu đỏ đen, BKS 21V3-7715 của anh Th để đi chơi. Sau khi mượn được xe, L đi đến cầu bản Noọng, thuộc phường Pú Trạng, thị xã Nghĩa Lộ, thì gặp bạn gái tên là Mai Xuân, nhà ở Sơn La, nhưng L không biết rõ họ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của Mai Xuân ở đâu. Mai Xuân rủ L đi chơi, do không có tiền đi chơi nên L bảo Mai Xuân đứng đợi, còn L đi xe mô tô đến nhà anh Bùi Minh H ở tổ 8, phường Pú Trạng, thị xã Nghĩa Lộ vay của anh H 1.000.000đ và để chiếc xe lại làm tin. Anh H hỏi về nguồn gốc xe, thì L nói là xe của vợ, giấy tờ do vợ L giữ. Vì là bạn học, nên anh H cho L vay tiền. L cầm tiền quay lại chỗ Mai Xuân và cùng nhau đi chơi đến khoảng 4 giờ sáng 24/9/2018, L đưa cho Mai Xuân số tiền 1.000.000đ để Mai Xuân đi về Sơn La. Còn L đi về nhà ngủ, đến trưa ngày 24/9/2018 L tiếp tục đến nhà anh H vay thêm 500.000đ và L viết giấy vay tiền cho anh H là 1.700.000đ. Đến tối ngày 24/9/2018 anh Th đi tìm L để đòi lại xe, khi gặp được L ở đám cưới ở bản Noọng, phường Pú Trạng, thị xã Nghĩa Lộ, L nói dối là để xe ở bên nhà bên cạnh và dẫn Th sang để lấy xe, nhưng L lợi dụng đêm tối bỏ trốn. Ngày 28/9/2018 anh Nguyễn Trọng Th đã trình báo sự việc trên với Công an phường Pú Trạng, thị xã Nghĩa Lộ. Ngày 29/9/2018 Công an phường Pú Trạng tiến hành xác minh và tạm giữ chiếc xe mô tô BKS 21V3-7715, cùng một giấy vay tiền tại nhà anh Bùi Minh H và chuyển đến Công an thị xã Nghĩa Lộ giải quyết. Tại Cơ quan điều tra Lường Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Ngày 03/10/2018 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Nghĩa Lộ đã định giá và kết luận: Chiếc xe mô tô BKS 21V3-7715 có trị giá thực tế còn lại là 6.000.000đ.

Tại bản Cáo trạng số: 31/CT-VKS-NL ngày 15/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ truy tố Lường Văn L về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ luận tội đối với bị cáo Lường Văn L vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố, đồng thời đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lường Văn L từ 9 (Chín) tháng đến 1 (Một) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu đỏ đen, BKS 21V3-7715, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Trọng Th, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Th quản lý sử dụng là đúng quy định của pháp luật.

- 01 giấy vay tiền mang tên Lường Văn L, trú tại tổ 1 Ao Sen, phường Tân An, thị xã Nghĩa Lộ, được chuyển làm tài liệu lưu trong hồ sơ vụ án.

Đối với Bùi Minh H là người nhận chiếc xe mô tô BKS 21V3-7715, do L đem đến cầm cố để vay của anh H số tiền 1.500.000đ. Nhưng anh H không biết tài sản trên là do L chiếm đoạt mà có, nên anh H không phạm tội.

Trong vụ án này Lường Văn L khai ngày 23/9/2018 L cho bạn gái tên là Mai Xuân 1.000.000đ, từ khoản tiền do phạm tội mà có. Nhưng L không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể Mai Xuân ở đâu, nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng trong hồ sơ đã có lời khai và không có mâu thuẫn gì với lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo không có tranh luận gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử;

Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa lộ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lường Văn L thừa nhận khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/9/2018 do quen biết từ trước với anh Nguyễn Trọng Th, trú tại tổ 8, phường Pú Trạng, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, L mượn của anh Th 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave, màu sơn đỏ đen, BKS 21V3- 7715, xe đã qua sử dụng có giá trị thực tế là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng), với mục đích làm phương tiện để đi chơi. Sau khi mượn được xe, L đi đến cầu bản Noọng, thuộc phường Pú Trạng, thị xã Nghĩa Lộ, gặp bạn gái tên là Mai Xuân do không có tiền chi tiêu cá nhân, L nảy sinh ý định chiếm đoạt và mang chiếc xe đến nhà anh Bùi Minh H, ở tổ 8 phường Pú Trạng, thị xã Nghĩa Lộ, vay tiền của anh H được 1.500.000đ và để xe ở đó làm tin. Sau khi chi tiêu hết số tiền trên. Khi anh Th gặp L và yêu cầu L trả lại xe mô tô, thì L đã bỏ trốn.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp lời khai của người có quyền lợi liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì Vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lường Văn L đã có hành vi lợi dụng sự tin tưởng của anh Nguyễn Trọng Th cho L mượn xe mô tô, sau đó dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản với hình thức cầm cố lấy số tiền 1.500.000đ để tiêu sài cá nhân.

Lường Văn L là người có đầy đủ khả năng để nhận thức, biết rõ việc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, để có tiền tiêu sài cho bản thân. Từ những hành vi nêu trên của Lường Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất mức độ của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trái phép quyền sở hữu tài sản của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong việc quản lý tài sản của nhân dân. Vì vậy Lường Văn L phải chịu trách nhiệm hình sự do mình gây ra, nên cần xử lý nghiêm minh mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng, răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Lường Văn L phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, đã thu hồi được tài sản và trả lại cho bị hại; Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo đầy đủ rõ ràng về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng bị cáo Lường văn L không có tình tiết nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Ngày 08/4/2016 và ngày 06/9/2018, bị TAND thị xã Nghĩa Lộ Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Ngày 19/10/2004, bị TAND thị xã Nghĩa Lộ xử phạt 04 tháng tù, về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do vậy thể hiện bị cáo là người có nhân thân không tốt.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm tại địa phương.

[4] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự. Bị cáo còn phải bị phạt tiền, nhưng do hoàn cảnh của bị cáo là người không có tài sản, không có việc làm và không có điều kiện để thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong hồ sơ vụ án người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Xử lý vật chứng: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu đỏ đen, BKS 21V3-7715, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Trọng Th, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Th quản lý sử dụng là đúng quy định của pháp luật.

- 01 giấy vay tiền mang tên Lường Văn L, trú tại tổ 1 Ao Sen, phường Tân An, thị xã Nghĩa Lộ, được chuyển làm tài liệu lưu trong hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: Lường Văn L phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với Bùi Minh H là người nhận chiếc xe mô tô BKS 21V3-7715, do L đem đến cầm cố để vay của anh H số tiền 1.500.000đ. Nhưng anh H không biết tài sản trên là do L chiếm đoạt mà có. Vì vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý anh H là đúng quy định của pháp luật.

Trong vụ án này Lường Văn L khai ngày 23/9/2018 Luận cho bạn gái tên là Mai Xuân 1.000.000đ, từ khoản tiền do phạm tội mà có. Nhưng L không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể Mai Xuân ở đâu, nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Những đề nghị có căn cứ của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tại phiên toà phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử đã nhận định ở trên nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lường Văn L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lường Văn L 9 (Chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 26/10/2018. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Lường Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Người có quyền lợi liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

222
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:35/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Nghĩa Lộ - Yên Bái
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về