Bản án 35/2018/HS-ST ngày 19/04/2018 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TĨNH GIA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 35/2018/HS-ST NGÀY 19/04/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 19 tháng 4 năm 2018, tại Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Hoàng Ngọc S - Sinh ngày 06/9/1966; Nơi ĐKHKTT: xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 7/10; Con ông: Hoàng Ngọc S1 (đã chết) và con bà: Lê Thị H (đã chết); Có vợ: Hoàng Thị P - Sinh năm 1970; Có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1994;

Tiền án, Tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2018 đến ngày 09/01/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Hữu T - Sinh năm: 1985; trú tại: Thôn K, xã TL, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; “vắng mặt”

+ Anh Nguyễn Văn C - Sinh năm: 1995; trú tại: Thôn H, xã M, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
 
Vào khoảng 17h30 ngày 06/01/2018, tại thôn G, xã T, huyện T, Hoàng Ngọc S đang có hành vi bán các cặp số lô 36,57 mỗi con 25 điểm; số đề 16,32,66,22 mỗi số 11.000đ, tổng số tiền 1.190.000đ cho Nguyễn Hữu T; sinh năm 1985 ở thôn K, xã TL và bán các cặp số lô 67,76 mỗi số 35 điểm với tổng số tiền 1.610.000đ cho Nguyễn Văn C; sinh năm 1995 ở thôn H, xã M, huyện T thì bị Công an huyện Tĩnh Gia phát hiện bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm 01 (một) tờ giấy A4 bên trong có ghi các số lô, số đề đã bán ngày 06/01/2018, 01(một) máy tính cầm tay nhãn hiệu Casino màu đen; 01(một) điện thoại di động hiệu SAM SUNG A5 và số tiền 5.440.000đ (Năm triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng ).

Quá trình điều tra xác định. Ngày 06/01/2018, Hoàng Ngọc S đã bán cho những người mua số lô, số đề cụ thể như sau: Các cặp số đề 23,32,02 mỗi con 5.000đ; 02,20,44,20,76,56,43 mỗi con 11.000đ; 10,23 mỗi con 22.000đ, con 32 giá 33.000đ, con 10 giá 100.000đ. Các cặp số lô 18 giá 5 điểm; 34,43,69,10,76,56 mỗi con 10 điểm; 79,43 mỗi con 20 điểm;

Đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề đó là: Dựa trên kết quả số số kiến thiết miền bắc được mở thưởng hàng ngày. Người mua số lô sẽ mua của người bán 02 số cuối của tất cả các giải và được tính theo điểm, mỗi điểm có trị giá là 23.000đ (Hai mươi ba nghìn đồng), nếu trúng thưởng người bán phải trả cho người mua 1 điểm là 80.000đ (tám mươi nghìn đồng). Mua, bán số đề là người mua sẽ mua của người bán 02 số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng người bán phải trả cho người mua 1.000đ = 70.000đ (bảy mươi nghìn đồng).

Số tiền Hoàng Ngọc S đã bán số lô, số đề cho cho anh T, anh C và những người qua đường khác trong ngày 06/01/2018 được xác định:

Số tiền bán số đề = 323.000đ; số tiền bán số lô = 375 điểm tương đương 8.625.000đ. Tổng số tiền đã đưa vào đánh bạc 8.948.000đ (Tám triệu chín trăm bốn tám nghìn đồng). Khi bắt giữ thu được 5.440.000đ, số còn lại 3.508.000đ Hoàng Ngọc S đã chi tiêu trong gia đình, chưa thu giữ được.

Bản cáo trạng số 42/CTr-VKS ngày 22/3/2018 của VKSND huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Hoàng Ngọc S về tội “Đánh bạc”

Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 BLHS năm 2015 đối với bị cáo Hoàng Ngọc S;

- Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với Hoàng Ngọc S từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử:

+ Trả lại cho bị cáo 01 (một) máy tính cầm tay nhãn hiệu Casino màu đen vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo;

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước 5.440.000đ là tiền bị cáo đánh bạc.

+ Tiếp tục truy thu sung quỹ Nhà nước số còn lại 3.508.000đ là tiền bị cáo dùng để tham gia đánh bạc, nhưng bị cáo đã chi tiêu trong gia đình, chưa thu giữ được

- Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Trách nhiệm chịu án phí đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Công an huyện Tĩnh Gia, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tĩnh Gia, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Kết thúc phần xét hỏi công khai tại phiên toà sơ thẩm hôm nay bị cáo Hoàng Ngọc S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà hôm nay. Có căn cứ để khẳng định VKSND huyện Tĩnh Gia đã truy tố bị cáo Hoàng Ngọc S về tội “Đánh bạc” là đúng.

Tại phiên toà hôm nay đại diện VKSND huyện Tĩnh Gia thực hành quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Do đó HĐXX có đủ cơ sở kết luận Hoàng Ngọc S phạm tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3] Xét tính chất vụ án: Thời gian vừa qua trên địa bàn huyện Tĩnh Gia tệ nạn “Lô, đề” có chiều hướng gia tăng và diền biến hết sức phức tạp. Có thể nói “Lô, đề” đã gây nhiều tác hại nghiêm trọng cho đời sống xã hội, làm ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống và các chuẩn mực xã hội. Đặc biệt nghiêm trọng hơn khi tệ nạn “Lô, đề” là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Một số người vì động cơ tư lợi đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, làm mất trật tự trị an xã hội, làm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và kinh tế của các gia đình. Vì vậy cần phải xử lý nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Tiền án, tiền sự: Không; Qúa trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.

Do có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, với nhân thân của bị cáo như trên, hơn nữa bị cáo có lai lịch rõ ràng, có nơi cư trú ổn định, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng phù hợp với Điều 65 BLHS năm 2015 và để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, mở đường cho bị cáo hướng tới tương lai để tu dưỡng, rèn luyện mình trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

[5] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

- Đối với 01 (một) máy tính cầm tay nhãn hiệu Casino màu đen quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai đây là máy tính của con bị cáo, bị cáo không dùng để tính toán về việc ghi số lô, số đề. Do đó HĐXX tuyên trả lại cho bị cáo;

- Tịch thu sung quỹ Nhà Nước 5.440.000đ là phương tiện phạm tội và tiền bị cáo đánh bạc.

- Tiếp tục truy thu sung quỹ Nhà nước số còn lại 3.508.000đ là tiền bị cáo dùng để tham gia đánh bạc, nhưng bị cáo đã chi tiêu trong gia đình, chưa thu giữ được.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy hiện tại bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Hoàng Ngọc S;

- Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Ngọc S phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Ngọc S 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Giao bị cáo Hoàng Ngọc S về UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

+ Trả lại cho bị cáo 01 (một) máy tính cầm tay nhãn hiệu Casino màu đen vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo;

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước 5.440.000đ là phương tiện phạm tội và tiền bị cáo đánh bạc.

+ Tiếp tục truy thu sung quỹ Nhà nước số còn lại 3.508.000đ là tiền bị cáo dùng để tham gia đánh bạc, nhưng bị cáo đã chi tiêu trong gia đình, chưa thu giữ được.

(Theo phiếu nhập kho số NK 2018/43 và phiếu thu số PT 2018/498 ngày 26 tháng 3 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa).

- Án phí: Áp dụng các điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23; mục 1 phần I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Hoàng Ngọc S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo tại phiên tòa. Tuyên bố bị cáo quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

164
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2018/HS-ST ngày 19/04/2018 về tội đánh bạc

Số hiệu:35/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tĩnh Gia (cũ) - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/04/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về