Bản án 35/2018/DS-ST ngày 18/07/2018 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 35/2018/DS-ST NGÀY 18/07/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN

Trong ngày 18 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 63/2018/TLST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2018/QĐXXST- DS ngày 27 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân B, địa chỉ: Tổ 1, khóm T, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang có ông Nguyễn Tấn P, chức vụ Tổ trưởng Tổ tín dụng Quỹ tín dụng nhân dân B đại diện theo uỷ quyền (giấy ủy quyền số 02 ngày 02/4/2018). (có mặt).

- Bị đơn:

1- Ông Lê Thành T, sinh năm 1968 (vắng mặt).

2- Bà Trần Thị U, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: khóm X, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 02/4/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn do người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Tấn P trình bày:

Ông Lê Thành Tvà bà Trần Thị U có vay vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân B theo hợp đồng tín dụng số 1074CTC16 ngày 12/8/2016, vay số tiền 40.000.000 đồng, thời hạn vay 18 tháng, hạn trả cuối cùng là ngày 12/02/2018; lãi suất tiền vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng 1,10%/tháng, lãi suất nợ quá hạn 1,65%/tháng, hình thức cho vay thế chấp quyền sử dụng đất số CH00851, diện tích 109,1m2, đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang do ông Lê Thành T và bà Trần Thị U đứng tên. 

Qúa trình vay vốn, ông Lê Thành T và bà Trần Thị U chỉ thanh toán được cho Quỹ tín dụng số tiền lãi đến ngày 31/5/2017 và vốn là 13.777.600đ, thì ngưng không trả nợ gốc, lãi như thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng cho đến nay, mặc dù Quỹ tín dụng nhân dân B đã nhiều lần đôn đốc nhắc nợ. Hiện còn nợ Quỹ tín dụng nhân dân B số tiền vốn vay là 26.222.400 đồng, nợ lãi tính đến ngày 18/7/2018 là 4.293.000 đồng. Tổng cộng vốn gốc và lãi là 30.515.000 đồng.

Nay ông Lê Thành T và bà Trần Thị U đã vi phạm Hợp đồng tín dụng số 1074CTC16 ngày 12/8/2016 đối với Quỹ tín dụng nhân dân B nên yêu cầu ông Lê Thành T và bà Trần Thị U phải có trách nhiệm trả dứt điểm một lần số tiền 30.515.000 đồng.

Ông Lê Thành T và bà Trần Thị U đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Lê Thành T và bà Trần Thị U vẫn từ chối không đến Tòa án để trình bày ý kiến nên Tòa án không tiến hành ghi lời khai và hòa giải giữa các đương sự được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vốn vay và lãi suất, xét đây là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng dân sự vay tài sản, đồng thời bị đơn có nơi cư trú tại thị trấn T, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang nên căn cứ k ho ản 3 Điều 26,  điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Vẫn còn thời hiệu khởi kiện.

[3] Về việc vắng mặt của đương sự: Xét ông Lê Thành T và bà Trần Thị U đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Đi ều 227 v à khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án xét xử vắng mặt ông Lê Thành T và bà Trần Thị U.

[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[4.1] Xét hợp đồng tín dụng số 1074CTC16 ngày 12/8/2016 được ký kết giữa Quỹ tín dụng nhân dân B với ông Lê Thành T và bà Trần Thị U, trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung không trái pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

Quá trình vay vốn, ông Lê Thành T và bà Trần Thị U đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ vay khi đến hạn và không trả tiền lãi như đã thỏa thuận. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Lê Thành T và bà Trần Thị U không đến, xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình.

Xét thấy, việc Quỹ tín dụng nhân dân B khởi kiện yêu cầu ông Lê Thành T và bà Trần Thị U với tư cách người vay, phải có trách nhiệm thanh toán nợ gốc và lãi tính tới ngày xét xử 18/7/2018 tổng cộng là 30.515.000 đồng, là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4.2] Xét hợp đồng thế chấp tài sản của khách hàng vay vốn số 1074CTC16 ngày 12/8/2016 đối với quyền sử dụng đất số CH00851, diện tích 109,1m2, đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại thị trấn T, huyện B, tỉnh An Giang do ông Lê Thành T và bà Trần Thị U đứng tên để đảm bảo số nợ vay, phía Quỹ tín dụng nhân dân B có yêu cầu duy trì hợp đồng thế chấp nầy để đảm bảo việc thi hành án về sau là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận .

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do ông Lê Thành T và bà Trần Thị U có lỗi trong việc vi phạm hợp đồng dân sự nên phải chịu án phí theo mức án phí có giá ngạch tính trên số tiền phải trả cho Quỹ tín dụng.

Quỹ tín dụng nhân dân B được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 , điểm a k hoản 1 Điều 35 , điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 463, Điều 468, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/NQ về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân B.

Buộc ông Lê Thành T và bà Trần Thị U phải có trách nhiệm trả cho Quỹ tín dụng nhân dân B tiền vốn vay là 26.222.400 đồng và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 18/7/2018 là 4.293.000 đồng, tổng cộng là 30.515.000 đồng (ba mươi triệu năm trăm mười lăm ngàn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Lê Thành T và bà Trần Thị U còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng phải điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Xử lý hợp đồng thế chấp tài sản của khách hàng vay vốn số 1074CTC16 ngày 12/8/2016 đối với quyền sử dụng đất số CH00851, diện tích 109,1m2, đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang do ông Lê Thành T và bà Trần Thị U đứng tên để đảm bảo thi hành án.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Lê Thành T và bà Trần Thị U phải có trách nhiệm chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.525.000 đồng (một triệu năm trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

Quỹ tín dụng nhân dân B được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 656.000 đồng (sáu trăm năm mươi sáu ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2016/0004172 ngày 08/5/2018 của Chi cục Thi  hành ándân sự huyện Tịnh Biên.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


78
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2018/DS-ST ngày 18/07/2018 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

Số hiệu:35/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tịnh Biên - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 18/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về